Các loại cầu chì trong mạch điện tử. Có nhiều loại cầu chì khác nhau có sẵn trên thị trường và chúng có thể là các loại trên cơ sở Các khía cạnh khác nhau. Điều cần biết: Cầu chì được sử dụng trong mạch AC cũng như DC. Các loại cầu chì trong mạch điện tử
Ngày nay, mỗi thương gia trực tuyến đều biết rằng thanh toán trực tuyến an toàn là cần thiết cho các doanh nghiệp thương mại điện tử hiệu quả. Với mục đích cải thiện hơn nữa tính bảo mật, các phương thức xác thực thẻ và xác thực người dùng mới theo Chỉ thị
Thương mại điện tử (E-Commerce) là hình thức kinh doanh trực tuyến sử dụng nền tảng công nghệ thông tin với sự hỗ trợ của Internet để thực hiện các giao dịch mua bán, trao đổi, thanh toán trực tuyến. Thương mại điện tử (TMĐT) là xu hướng của thời đại toàn cầu hóa
Thực trạng giải pháp cho vấn đề an toàn bảo mật trong thương mại điện tử. Tài liệu " Thực trạng giải pháp cho vấn đề an toàn bảo mật trong thương mại điện tử " có mã là 262824, file định dạng zip, có 58 trang, dung lượng file 397 kb. Tài liệu thuộc chuyên mục: Luận
Giải pháp bảo mật Thương mại điện tử. 1. Sử dụng HTTPS. HTTPS là tiêu chuẩn bắt buộc dành cho mọi website, đặc biệt là TMĐT. Giao thức HTTPS giúp bảo mật thông điệp truyền tải giữa server và client. Điều này không chỉ giúp bảo mật tài khoản của người dùng, mà còn
XEM VIDEO Làm thương mại điện tử là làm gì tại đây. Thị trường thương mại điện tử tại Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ và dự kiến sẽ tăng tốc trong những năm tới. đó là lý do ngày càng nhiều công ty, doanh nghiệp có chiến lược đầu tư kinh doanh vào loại hình kinh
MeeyLand tự nói gì về mình? Từ bị tố phát hành tiền ảo… Tới bị Bộ Công Thương “chỉ mặt” kinh doanh đa cấp không phép; Website thương mại điện tử thành trang tin tổng hợp không dẫn nguồn và bị xử phạt
. BẢO MẬT TRONG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Thiết lập một hệ thống thương mại điện tử sao cho dễ truy cập và an toàn là công việc nghiêm túc,. số chuyên gia bảo mật cho rằng mục tiêu bảo mật chặt chẽ có thể đạt được chẳng mấy khó khăn. Sau đây là một số đề xuất
. Tác giả liên hệ quannh Nhận bài 14/8/2022; Chấp nhận đăng 22/10/2022 Tóm tắt-Vấn đề bảo mật dữ liệu cá nhân được nghiên cứu chủ yếu tại các nước thương mại điện tử phát triển mà chưa có nhiều nghiên cứu được thực hiện ở Việt Nam. Nghiên cứu này nhằm mục tiêu kiểm định sự tác động của lòng tin trong mối quan hệ giữa các nhân tố chính sách bảo mật dữ liệu cá nhân, sự quen thuộc, cảm nhận rủi ro thông tin và chuẩn mực chủ quan tới ý định mua hàng trực tuyến B2C. Nghiên cứu được thực hiện bằng khảo sát 408 người tiêu dùng trực tuyến tại Việt Nam. Dữ liệu được phân tích độ tin cậy, phân tích khám phá nhân tố, phân tích khẳng định nhân tố và mô hình cấu trúc tuyến tính SEM. Kết quả chỉ ra, lòng tin của khách hàng tăng lên khi nhà cung cấp trực tuyến tăng bảo mật thông tin nhạy cảm, khi mức độ quen thuộc, chuẩn mực chủ quan của khách hàng trực tuyến tăng lên; và tỉ lệ nghịch với cảm nhận rủi ro thông tin, trong khi đó lòng tin củng cố ý định mua của khách hàng trực tuyến. Abstract-Privacy, trust and intention to purchase in B2C were mainly conducted in developed e-commerce countries; only a small number of studies have used the Vietnam context. The objective of our paper is to examine the effect of trust in the impact of data privacy protection and marketing information on purchase intention in B2C. The study adopts the quantitative analysis of the data collected from a survey of 408 online consumers. The reliability analysis, factor exploratory analysis, factor confirmation analysis, and SEM structure model were applied to analise the dataset. The research result shows the evidence on the impact of privacy protection on e-trust and purchase intention of online shoppers on B2C e-commerce platforms in Vietnam. The result also indicates that e-trust is positively affected with sensitive information policy, familiarity, objective factors, and negatively affected with perception of information risk, meanwhile e-trust affects customers' purchase intention Từ khóa-Bảo vệ dữ liệu cá nhân; ý định mua hàng trực tuyến; lòng trung thành; B2C 1. Giới thiệu chung Trong những năm gần đây, với sự bùng nổ mạnh mẽ của công nghệ thông tin và Internet, các hoạt động giao dịch, mua bán trực tuyến trở nên sôi động, dần có hệ thống và được tổ chức bài bản, trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống hiện đại. Theo thống kê của Digital Việt Nam, năm 2021, Việt Nam có 68,72 triệu người tiếp cận với Internet tương đương với tỷ lệ truy cập là 70,3%, tăng 0,3% so với cùng kỳ năm 2020 [1]. Tuy nhiên, việc thực thi các quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân trong môi trường trực tuyến tại Việt Nam có rất nhiều vấn đề cần giải quyết cấp bách. Bảo vệ dữ liệu cá nhân là tiền đề quan trọng để hoạt động kinh doanh trực tuyến phát triển an toàn và bền vững. Trong thời gian qua, hiện tượng "rò rỉ dữ liệu" cá nhân là cụm từ được nhắc đến rất nhiều trong lĩnh vực an ninh mạng [2]. Theo thống kê, trung bình 94% người dùng Internet ở Việt Nam lo ngại về tình trạng rò rỉ thông tin cá nhân trên không gian mạng, đặc biệt là qua các phương tiện truyền thông khác nhau Truyền hình, báo chí, mạng xã hội và các trang mua hàng trực tuyến [3]. Mặc dù, chính phủ và các tổ chức đã có những động thái trong việc bảo vệ quyền riêng tư thông tin trực tuyến của người tiêu dùng và chính người tiêu dùng đã có các hành động bảo vệ để giảm thiểu rủi ro, nhưng vấn đề rò rỉ thông tin cá nhân vẫn là một vấn nạn trên môi trường thương mại điện tử ở Việt Nam [4]. Ở khía cạnh chính sách, nhiều nghiên cứu [5] đã chỉ ra rằng, nếu chính sách kinh doanh trực tuyến và quy định của 1 Foreign Trade University chính phủ được nhận thức rõ ràng trong xã hội thì có thể làm giảm mối lo ngại bị mất quyền riêng tư của khách hàng, ngược lại nếu thiếu chính sách thì người tiêu dùng sẽ có phản ứng để bảo vệ lợi ích của họ. Sự nhạy cảm của thông tin cá nhân và nguy cơ bị đánh mất thông tin cá nhân sẽ làm giảm ý định cung cấp thông tin cá nhân của khách hàng [6] trong quá trình giao dịch. Bảo vệ dữ liệu cá nhân được xem xét ở khía cạnh hành vi người tiêu dùng trực tuyến nhưng chủ yếu tập trung nghiên cứu tại các nước thương mại điện tử phát triển [7]. Tại Việt Nam, các nghiên cứu này còn rất hạn chế, chủ yếu tập trung tới khía cạnh pháp lý [8] hoặc với loại hình doanh nghiệp với doanh nghiệp B2B [9], chính sách bảo mật thông tin cá nhân với ứng dụng giao hàng chặng cuối tủ khoá thông minh [10]. Đứng trước thực tế bán lẻ trực tuyến B2C tăng trưởng rất nhanh trong thời gian qua, đặc biệt từ đại dịch Covid-19. Các nghiên cứu gần đây ở Việt Nam cũng đã được thực hiện nhằm kiểm chứng sự phù hợp của các mô hình lý thuyết như TAM lý thuyết chấp nhận công nghệ, TPB lý thuyết dự định hành vi, TRA lý thuyết hành vi hợp lý và đặc biệt quan tâm tới các nhân tố như chuẩn mực chủ quan và sự quen thuộc như là những nhân tố quan trọng đối với hành vi người tiêu dùng trực tuyến. Tuy nhiên, đối với chính sách bảo vệ thông tin nhạy cảm gắn với hành vi của người tiêu dùng trực tuyến ở các nước đang phát triển, đặc biệt ở Việt Nam lại chưa được xem xét một cách cụ thể. Nghiên cứu của nhóm tác giả hướng đến nội dung này. Tác giả phân tích dữ liệu khảo sát 408 khách hàng trực tuyến ở Việt Nam để trả lời cho câu hỏi, lòng tin và ý định mua hàng của họ chịu ảnh hưởng như thế nào từ bảo Discover the world's research25+ million members160+ million publication billion citationsJoin for free ISSN 1859-1531 - TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG, VOL. 20, NO. 2022 47 THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ B2C BẢO MẬT, LÒNG TIN VÀ Ý ĐỊNH MUA HÀNG PRIVACY PROTECTION, TRUST AND INTENTION TO PURCHASE IN B2C E-COMMERCE Nguyễn Hồng Quân1Trường Đại học Ngoại thương 2Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội *Tác giả liên hệ quannh Nhận bài 14/8/2022; Chấp nhận đăng 22/10/2022 Tóm tắt - Vấn đề bảo mật dữ liệu cá nhân được nghiên cứu chủ yếu tại các nước thương mại điện tử phát triển mà chưa có nhiều nghiên cứu được thực hiện ở Việt Nam. Nghiên cứu này nhằm mục tiêu kiểm định sự tác động của lòng tin trong mối quan hệ giữa các nhân tố chính sách bảo mật dữ liệu cá nhân, sự quen thuộc, cảm nhận rủi ro thông tin và chuẩn mực chủ quan tới ý định mua hàng trực tuyến B2C. Nghiên cứu được thực hiện bằng khảo sát 408 người tiêu dùng trực tuyến tại Việt Nam. Dữ liệu được phân tích độ tin cậy, phân tích khám phá nhân tố, phân tích khẳng định nhân tố và mô hình cấu trúc tuyến tính SEM. Kết quả chỉ ra, lòng tin của khách hàng tăng lên khi nhà cung cấp trực tuyến tăng bảo mật thông tin nhạy cảm, khi mức độ quen thuộc, chuẩn mực chủ quan của khách hàng trực tuyến tăng lên; và tỉ lệ nghịch với cảm nhận rủi ro thông tin, trong khi đó lòng tin củng cố ý định mua của khách hàng trực tuyến. Abstract - Privacy, trust and intention to purchase in B2C were mainly conducted in developed e-commerce countries; only a small number of studies have used the Vietnam context. The objective of our paper is to examine the effect of trust in the impact of data privacy protection and marketing information on purchase intention in B2C. The study adopts the quantitative analysis of the data collected from a survey of 408 online consumers. The reliability analysis, factor exploratory analysis, factor confirmation analysis, and SEM structure model were applied to analise the dataset. The research result shows the evidence on the impact of privacy protection on e-trust and purchase intention of online shoppers on B2C e-commerce platforms in Vietnam. The result also indicates that e-trust is positively affected with sensitive information policy, familiarity, objective factors, and negatively affected with perception of information risk, meanwhile e-trust affects customers' purchase intention Từ khóa - Bảo vệ dữ liệu cá nhân; ý định mua hàng trực tuyến; lòng trung thành; B2C Key words – Privacy protection; online purhchase intention; loyalty; B2C 1. Giới thiệu chung Trong những năm gần đây, với sự bùng nổ mạnh mẽ của công nghệ thông tin và Internet, các hoạt động giao dịch, mua bán trực tuyến trở nên sôi động, dần có hệ thống và được tổ chức bài bản, trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống hiện đại. Theo thống kê của Digital Việt Nam, năm 2021, Việt Nam có 68,72 triệu người tiếp cận với Internet tương đương với tỷ lệ truy cập là 70,3%, tăng 0,3% so với cùng kỳ năm 2020 [1]. Tuy nhiên, việc thực thi các quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân trong môi trường trực tuyến tại Việt Nam có rất nhiều vấn đề cần giải quyết cấp bách. Bảo vệ dữ liệu cá nhân là tiền đề quan trọng để hoạt động kinh doanh trực tuyến phát triển an toàn và bền vững. Trong thời gian qua, hiện tượng “rò rỉ dữ liệu” cá nhân là cụm từ được nhắc đến rất nhiều trong lĩnh vực an ninh mạng [2]. Theo thống kê, trung bình 94% người dùng Internet ở Việt Nam lo ngại về tình trạng rò rỉ thông tin cá nhân trên không gian mạng, đặc biệt là qua các phương tiện truyền thông khác nhau Truyền hình, báo chí, mạng xã hội và các trang mua hàng trực tuyến [3]. Mặc dù, chính phủ và các tổ chức đã có những động thái trong việc bảo vệ quyền riêng tư thông tin trực tuyến của người tiêu dùng và chính người tiêu dùng đã có các hành động bảo vệ để giảm thiểu rủi ro, nhưng vấn đề rò rỉ thông tin cá nhân vẫn là một vấn nạn trên môi trường thương mại điện tử ở Việt Nam [4]. Ở khía cạnh chính sách, nhiều nghiên cứu [5] đã chỉ ra rằng, nếu chính sách kinh doanh trực tuyến và quy định của Foreign Trade University Nguyen Hong Quan University of Economics and Business - Vietnam National University, Hanoi Tran Thi Hien chính phủ được nhận thức rõ ràng trong xã hội thì có thể làm giảm mối lo ngại bị mất quyền riêng tư của khách hàng, ngược lại nếu thiếu chính sách thì người tiêu dùng sẽ có phản ứng để bảo vệ lợi ích của họ. Sự nhạy cảm của thông tin cá nhân và nguy cơ bị đánh mất thông tin cá nhân sẽ làm giảm ý định cung cấp thông tin cá nhân của khách hàng [6] trong quá trình giao dịch. Bảo vệ dữ liệu cá nhân được xem xét ở khía cạnh hành vi người tiêu dùng trực tuyến nhưng chủ yếu tập trung nghiên cứu tại các nước thương mại điện tử phát triển [7]. Tại Việt Nam, các nghiên cứu này còn rất hạn chế, chủ yếu tập trung tới khía cạnh pháp lý [8] hoặc với loại hình doanh nghiệp với doanh nghiệp B2B [9], chính sách bảo mật thông tin cá nhân với ứng dụng giao hàng chặng cuối tủ khoá thông minh [10]. Đứng trước thực tế bán lẻ trực tuyến B2C tăng trưởng rất nhanh trong thời gian qua, đặc biệt từ đại dịch Covid-19. Các nghiên cứu gần đây ở Việt Nam cũng đã được thực hiện nhằm kiểm chứng sự phù hợp của các mô hình lý thuyết như TAM lý thuyết chấp nhận công nghệ, TPB lý thuyết dự định hành vi, TRA lý thuyết hành vi hợp lý và đặc biệt quan tâm tới các nhân tố như chuẩn mực chủ quan và sự quen thuộc như là những nhân tố quan trọng đối với hành vi người tiêu dùng trực tuyến. Tuy nhiên, đối với chính sách bảo vệ thông tin nhạy cảm gắn với hành vi của người tiêu dùng trực tuyến ở các nước đang phát triển, đặc biệt ở Việt Nam lại chưa được xem xét một cách cụ thể. Nghiên cứu của nhóm tác giả hướng đến nội dung này. Tác giả phân tích dữ liệu khảo sát 408 khách hàng trực tuyến ở Việt Nam để trả lời cho câu hỏi, lòng tin và ý định mua hàng của họ chịu ảnh hưởng như thế nào từ bảo 48 Nguyễn Hồng Quân, Trần Thị Hiền vệ dữ liệu cá nhân, được xem xét cùng với tác động của marketing trên các sàn bán lẻ trực tuyến. 2. Cơ sở lý thuyết, giả thuyết và mô hình nghiên cứu Bảo vệ dữ liệu cá nhân trong thương mại điện tử Có nhiều quan niệm và cách tiếp cận khác nhau về bảo vệ dữ liệu cá nhân. Bảo vệ dữ liệu cá nhân được hiểu như là một thỏa thuận về trách nhiệm của bên bán hàng trong thương vụ giao dịch với khách hàng khi mà khách hàng cung cấp thông tin của họ để thực hiện giao dịch đó [11]. Gần đây, quan điểm của EU [12] đã đưa ra định nghĩa “dữ liệu cá nhân là bất kỳ thông tin nào liên quan đến một cá nhân, có thể xác nhận hoặc nhận dạng trực tiếp hoặc gián tiếp, bằng các tham chiếu thông qua mã định danh như tên, số chứng minh nhân dân, dữ liệu vị trí số tài khoản ngân hàng mà những dữ liệu này liên quan tới một hoặc nhiều yếu tố cụ thể như vật lý, sinh lý, sinh trắc học, thần kinh, kinh tế, văn hóa hoặc xã hội của người đó”. Khách hàng khi tham gia hoạt động mua hàng trên môi trường trực tuyến đều phải cung cấp các thông tin cá nhân ở các mức độ chi tiết khác nhau để người bán qua đó có thể nhận diện và xác thực người mua tham gia vào quá trình giao kết hợp đồng điện tử [13]. Những lo ngại về lạm dụng quyền riêng tư của khách hàng xuất phát từ sự thiếu kiểm soát chung đối với dữ liệu cá nhân của họ và/hoặc do nghi ngờ về cách các nhà bán lẻ xử lý dữ liệu của khách trong khi giao dịch và/hoặc các nhà bán lẻ cố ý mua bán thông tin khách hàng [14]. Do vậy, những thay đổi của nhà bán lẻ trực tuyến để củng cố, bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng sẽ xây dựng lòng tin của khách hàng mua sắm qua mạng internet và giảm rủi ro trong bảo mật dữ liệu cá nhân. Ngược lại, nếu người bán lẻ ít quan tâm tới khía cạnh này, những rủi ro tiềm ẩn liên quan đến mua sắm trực tuyến sẽ xuất hiện và là lực cản người tiêu dùng tham gia mua sắm trực tuyến. Lòng tin trên môi trường trực tuyến Lòng tin đề cập đến việc một cá nhân tin tưởng và kỳ vọng vào hành vi đạo đức của người khác. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới lòng tin như chuẩn mực chủ quan, rủi ro, sự tự tin và an ninh [15]. Lòng tin là một tiền đề rất quan trọng trên môi trường kinh doanh trực tuyến [16], nếu không có lòng tin các trang web có thể tồn tại mà không có khách hàng trung thành. Hoffman và Novak [16] cho rằng, lòng tin chưa đủ lớn chính là lý do mà nhiều người vẫn chưa mua sắm trực tuyến hoặc cung cấp thông tin cá nhân cho người bán. Do sự thiếu tin tưởng vào các giao dịch trực tuyến nên khi yêu cầu khách hàng cung cấp thông tin cá nhân và dùng thẻ tín dụng, khách hàng do dự và từ chối giao dịch. Xét ở khía cạnh bảo vệ dữ liệu cá nhân, lòng tin của khách hàng là một yêu cầu hợp lý. Khi các doanh nghiệp mô tả rõ các hành động thu thập thông tin của họ và các chính sách cam kết về việc sử dụng thông tin cá nhân của khách hàng một cách công khai, khách hàng sẽ sẵn sàng cung cấp thông tin cá nhân để cho phép các doanh nghiệp thúc đẩy mối quan hệ với khách hàng thông qua các dịch vụ được cải thiện và truyền thông có mục đích [17]. Chang và cộng sự [18] cho rằng, hành vi khách hàng là một phạm trù bao hàm niềm tin của họ vào năng lực tích hợp công nghệ bảo mật của sàn giao dịch trực tuyến và niềm tin của khách hàng vào cá nhân người bán lẻ. Nói tóm lại, lòng tin trên môi trường trực tuyến là một vấn đề quan trọng và có ảnh hưởng trực tiếp tới hành vi mua sắm của người tiêu dùng. Ý định mua hàng của khách hàng trực tuyến Ý định là một yếu tố được sử dụng để đánh giá khả năng thực hiện một hành vi trong tương lai. Theo Ajzen [19], ý định là một yếu tố tạo động lực, thúc đẩy một cá nhân sẵn sàng thực hiện hành vi. Kotler và Lee [20] cho rằng, ý định mua là trạng thái sẵn sàng mua sản phẩm của khách hàng, thể hiện động lực của khách hàng trong nỗ lực thực hiện hành vi. Các nhà nghiên cứu thường áp dụng lý thuyết về hành động hợp lý TRA [21] để dự đoán các ý định hành vi. Theo đó, ý định hành vi là tiền đề cho các hành vi cụ thể của một cá nhân. Trên cơ sở đó, Delafrooz và cộng sự [22] cho rằng, ý định mua sắm trực tuyến là khả năng hay mức độ chắc chắn nhất định của người tiêu dùng sẽ thực hiện việc mua sắm qua Internet. Heijden và Verhagen [23] cho rằng, sự thuận tiện, hữu ích, sự thích thú, dễ sử dụng, phong cách cửa hàng, sự quen thuộc và mức độ tin cậy của cửa hàng trực tuyến ảnh hưởng đến hành vi của người tiêu dùng trực tuyến. Sự quen thuộc Sự quen thuộc đề cập đến nhận thức, hiểu biết của một cá nhân về một việc làm nhất định và kinh nghiệm của họ có với kiến thức đó. Trong môi trường B2C, sự quen thuộc được xem như là nhân tố quan trọng để đánh giá về mức độ tin cậy của khách hàng với sàn giao dịch [24]. Sự quen thuộc có thể tạo ra lòng tin khi trải nghiệm thuận lợi hoặc hủy hoại lòng tin nếu trải nghiệm không thuận lợi [25]. Thêm vào đó, mối quan hệ trực tiếp và tích cực giữa sự quen thuộc và lòng tin cũng đã được kiểm chứng trong các nghiên cứu trước [26]. Chuẩn chủ quan Chuẩn chủ quan được đưa vào xem xét dự đoán hành vi đạo đức, so sánh lý thuyết hành động có lý do và lý thuyết hành vi dự kiến [27]. Khi đề cập đến ý định hành vi, Ajzen và Madden [28] đã chia thành hai yếu tố là thái độ đối với hành vi và chuẩn mực chủ quan. Khi đó, chuẩn mực chủ quan được hình thành từ việc nhận thức từ những người quan trọng xung quanh cho rằng người đó nên hay không nên thực hiện hành vi. Do vậy, thái độ của những người có sức ảnh hưởng tới khách hàng đặc biệt những người được cho là hình mẫu có tác động đến các cá nhân khách hàng khi họ tiếp cận các giải pháp công nghệ [29]. Giả thuyết và mô hình nghiên cứu Mối quan hệ giữa sự quen thuộc và lòng tin của khách hàng trực tuyến Sự quen thuộc đề cập đến nhận thức, hiểu biết của một cá nhân về một việc nhất định và kinh nghiệm của họ có với kiến thức đó. Theo Gefen và cộng sự [25], sự quen thuộc là một trong những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến ý định sử dụng Internet nhằm mục đích tìm kiếm thông tin và giao dịch mua bán. Tác động của sự quen thuộc đối với sự sẵn sàng thực hiện các giao dịch trực tuyến thông qua các kênh bán lẻ di động cũng đã được kiểm chứng trong nghiên cứu của Bhattacherjee [30]. Sự quen thuộc trong thương mại điện tử là một yêu cầu để tạo lòng tin của người mua [31]. Gulati [24] cũng cho rằng, sự quen thuộc giúp tạo dựng lòng tin vì không chỉ tạo nên những kỳ vọng trong tương lai, mà còn cho phép mọi người đưa ra ISSN 1859-1531 - TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG, VOL. 20, NO. 2022 49 những ý tưởng cụ thể về những gì họ mong đợi, họ đang nghĩ đến dựa trên các tương tác trước đó. Gefen và cộng sự [25] đã chỉ ra trải nghiệm là nền tảng của lòng tin, với sự quen thuộc có thể tạo ra lòng tin khi trải nghiệm thuận lợi hoặc hủy hoại lòng tin nếu trải nghiệm không thuận lợi. Sau này, Afshan và Sharif [32] cũng đã phân tích mối quan hệ trực tiếp và tích cực giữa sự quen thuộc và lòng tin. Do vậy, giả thuyết được đưa ra như sau H1+ Sự quen thuộc có ảnh hưởng tích cực đến lòng tin của khách hàng trực tuyến. Mối quan hệ giữa chính sách bảo mật thông tin và lòng tin của khách hàng trực tuyến Việc thu thập thông tin cá nhân ảnh hưởng đến nhận thức và lo ngại của người cung cấp thông tin [33] vì quá trình thu thập và lưu trữ dữ liệu của cá nhân đó có được thực hiện bảo mật một cách thích hợp hay không chưa được xác minh. Mothersbaugh và cộng sự [34] định nghĩa về độ nhạy thông tin là tổn thất tiềm năng liên quan đến việc tiết lộ thông tin đó. Độ nhạy cảm của thông tin được cho là có ảnh hưởng đến sự lo ngại về quyền riêng tư [33]. Độ nhạy cảm của dữ liệu cá nhân càng cao thì mối quan tâm về quyền riêng tư càng cao. Hơn nữa, khi thông tin nhạy cảm của một cá nhân bị lạm dụng, mối lo ngại mất quyền riêng tư có thể làm giảm sự sẵn sàng cung cấp thông tin của khách hàng trực tuyến [35], do đó, các nhà bán lẻ trực tuyến cần công khai chính sách bảo mật thông tin cá nhân cho khách hàng xây dựng niềm tin. Từ đó, có cơ sở để đưa ra giả thuyết rằng H2+ Chính sách bảo mật thông tin nhạy cảm có ảnh hưởng tích cực đến lòng tin của khách hàng trực tuyến. Mối quan hệ giữa cảm nhận rủi ro thông tin và lòng tin của khách hàng trực tuyến Khách hàng có thể gặp phải những rủi ro khi cung cấp các thông tin cá nhân trong quá trình mua hàng trực tuyến từ các website thương mại điện tử [36]. Khi tham gia vào các giao dịch thương mại điện tử, khách hàng cần phải tiết lộ một số thông tin cá nhân, người tiêu dùng trực tuyến luôn băn khoăn về những rủi ro liên quan đến việc thu thập, bảo vệ và sử dụng các thông tin mà họ cung cấp [30]. Theo Bhimani [37] thì một rào cản phổ biến để chấp nhận hoặc không chấp nhận cung cấp thông tin đó là vấn đề an ninh và sự bảo mật trên internet. Swaminathan và cộng sự [38] đã cho rằng, người tiêu dùng có thể lo ngại đối với các nhà cung cấp trực tuyến và có thể từ chối giao dịch khi họ cảm nhận về rủi ro thông tin. Tất cả điều đó làm giảm lòng tin của người tiêu dùng đối với việc mua hàng trực tuyến. Do vậy, tác giả đưa ra giả thuyết H3- Cảm nhận rủi ro thông tin tác động tiêu cực đến lòng tin của người tiêu dùng trực tuyến. Mối quan hệ giữa chuẩn mực chủ quan và lòng tin của người tiêu dùng Để so sánh lý thuyết hành động có lý do và lý thuyết hành vi dự kiến [27], chuẩn mực chủ quan được xem xét yếu tố của hành vi khách hàng. Chuẩn mực chủ quan chịu sự tác động của yếu tố khách quan, tức là “ảnh hưởng từ bên ngoài trong nhận thức tới việc thực hiện hoặc không thực hiện hành vi” [17]. Những người có danh tiếng thường sẽ gây ảnh hưởng đến hành vi của nhóm khách hàng có chuẩn mực tương đồng, trên môi trường mạng xã hội, người ảnh hưởng KOL – Key Opinion Leader cũng có tác động đến niềm tin của khách hàng [39] thông qua các hoạt động của họ trên môi trường trực tuyến. Thêm vào đó, bên cạnh người nổi tiếng, những người thân thiết hoặc các cá nhân chuyên gia và tổ chức uy tín tivi, báo đài cũng là những tác nhân hình thành chuẩn mực chủ quan [44]. Lý thuyết hành vi hợp lý TRA của Aijen [40] gọi những ảnh hưởng này là ảnh hưởng từ chuẩn mực chủ quan và chuẩn mực chủ quan có vai trò tạo lập lòng tin cho khách hàng. Giả thuyết tiếp theo được đặt ra H4+ Chuẩn mực chủ quan có ảnh hưởng tích cực đến niềm tin của khách hàng trực tuyến. Mối quan hệ giữa lòng tin của khách hàng và ý định mua hàng Lòng tin về các sàn giao dịch thương mại điện tử được hiểu là sự tin tưởng rằng các trang web sẽ không trục lợi từ khách hàng mà không quan tâm tới lợi ích mang lại [21] và kỳ vọng của khách hàng về khả năng năng lực, sự tôn trọng và an toàn của các trang web cho họ [22]. Lòng tin có quan hệ tích cực đến ý định mua sắm của khách hàng [41], khách hàng có sự tin cậy càng cao đối với các trang web thì ý định mua hàng của khách hàng càng trở lên rõ ràng. Không dừng lại ở đó, khách hàng còn có xu hướng giới thiệu trang web mà họ tin tưởng hoặc đưa ra những nhận xét tiêu cực cho những người khác [42]. Từ đó, tác giả đưa ra giả thuyết” H5 + Lòng tin có tác động tích cực đến ý định mua hàng của khách hàng. Từ những giả thuyết nghiên cứu trên, nhóm tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu thể hiện ở Hình 1 dưới đây Hình 1. Mô hình đề xuất Nguồn Tác giả đề xuất, năm 2022 3. Phương pháp nghiên cứu Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích định lượng dùng dữ liệu sơ cấp thu thập từ khảo sát khách hàng trực tuyến. Tác giả hiệu chỉnh và áp dụng các thang đo từ các nghiên cứu trước để phù hợp với bối cảnh nghiên cứu ở Việt Nam. Tác giả đo lường nhân tố phụ thuộc “ý định mua hàng” thông qua nhân tố trung gian “lòng tin của người tiêu dùng”, nhân tố trung gian này chịu sự tác động của 04 nhân tố độc lập là sự quen thuộc, chính sách bảo mật thông tin nhạy cảm, cảm nhận rủi ro thông tin và yếu tố khách quan. Các nhân tố này được đo lường bằng việc thiết lập các câu hỏi với thang đo Likert 5 mức độ 1 - rất không đồng tình, 2 - không đồng Cảm nhận rủi ro thông tin Chính sách bảo mật thông tin 50 Nguyễn Hồng Quân, Trần Thị Hiền tình, 3 - trung lập, 4 - đồng tình, 5 - rất đồng tình. Tác giả tiến hành kiểm định hệ số tin cậy Cronbach’s Anpha để loại các biến có hệ số tin cậy thấp, đảm bảo các câu hỏi phản ánh cùng một nội dung. Từ đó, làm cơ sở kiểm định qua k thuật phân tích nhân tố khám phá EFA để đánh giá và đi đến loại bỏ những câu hỏi không phù hợp hoặc những câu hỏi có yếu tố trùng lặp trong mỗi mục hỏi và phân tích CFA khẳng định nhân tố cùng với mô hình cấu trúc tuyến tính SEM sử dụng để phân tích dữ liệu. 4. Kết quả nghiên cứu Mô tả mẫu khảo sát Bảng khảo trực tuyến được gửi tới 450 người tiêu dùng trực tuyến qua email dữ liệu email khách hàng được cung cấp từ các sàn thương mại điện tử Shopee 225 và Lazada 225 thực hiện bằng phương pháp lựa chọn ngẫu nhiên, vấn đề bảo vệ dữ liệu và mục đích sử dụng dữ liệu khác sát tuân thủ theo đạo đức nghiên cứu, danh tính của người được khảo sát được bảo mật. Kết quả thu về 408 phiếu trả lời hợp lệ để khuyến khích khách hàng trả lời, nhóm nghiên cứu đã tặng món quà nhỏ sau khi kết thúc phần trả lời câu hỏi. Qua thống kê trong mẫu quan sát có số lượng giới tính nữ là 60,8% nhiều hơn giới tính nam giới. Các đối tượng có độ tuổi nhiều nhất từ 18 đến 22 tuổi chiếm 52,2%, từ 22 đến 30 tuổi chiếm 26,5%, dưới 18 tuổi chiếm 13,2% và trên 30 chiếm 8,1%. Trong mẫu quan sát có đối tượng sinh viên chiếm 50,5% là cao nhất, và các đối tượng còn lại lần lượt là người đi làm chiếm 36,8% và học sinh chiếm 12,7%. Mức thu nhập từ 0 đến 3 triệu chiếm tỷ lệ cao nhất với 42,9%, từ 3 đến 5 triệu chiếm 20,9%, từ 6 đến 10 triệu chiếm 20,1%, từ 11-20 triệu chiếm 10,5% và trên 20 triệu chiếm 5,6%. Mẫu khảo sát trên đều thuộc đối tượng có sự tiếp cận và sử dụng công nghệ tương đối sớm nên dữ liệu khảo sát phù hợp với bối cảnh nghiên cứu. Đánh giá độ tin cậy của các thang đo Kết quả cuối cùng sau khi loại bỏ quan sát KINHNGHIEM4 có hệ số tương quan biến-tổng nhỏ hơn 0,4 0,221, hệ số Cronbach’s Alpha của nhân tố “Sự quen thuộc” đã tăng lên 0,738 đạt yêu cầu cho thấy tất cả các thang đo đều đạt yêu cầu về hệ số tin cậy Cronbach alpha Thấp nhất là 0,738 Sự quen thuộc và cao nhất là 0,907 Lòng tin. Kết quả phân tích dữ liệu EFA của 27 biến quan sát cho thấy hệ số KMO là 0,856 >0,5 và kiểm định Barlett Sig. = 0,000 1, nhân tố thứ tư có giá trị Eigenvalue thấp nhất là 1,425 >1 cũng đạt yêu cầu. Như vậy, sau khi phân tích EFA các biến độc lập thì 27 biến quan sát này đã đảm bảo được tiêu chuẩn phân tích. Chi tiết kết quả phân tích được trình bày ở Bảng 1. Kết quả đo lường biến quan sát tương quan biến tổng Cronbach’s Alpha Cronbach’s Alpha nếu loại biến Sự quen thuộc FAMILARITY KINHNGHIEM1 Thời gian tham gia KINHNGHIEM2 Tần suất mua sắm KINHNGHIEM3 Kiến thức mua sắm KINHNGHIEM4 Thói quen mua sắm Chính sách bảo mật thông tin nhạy cảm SENSITIVE NHAYCAM1 Thông tin thanh toán NHAYCAM2 Thông tin cá nhân NHAYCAM3 Thông tin thói quen NHAYCAM4 Thông tin về hành vi Cảm nhận rủi ro thông tin RISK RUIRO1 Sử dụng sai mục đích RUIRO2 Tổn hại tài chính RUIRO3 Bị làm phiền RUIRO4 An toàn, an ninh RUIRO5 Tin tặc tấn công RUIRO6 Xâm phạm quyền riêng tư 0,626 0,708 0,654 0,666 0,668 0,589 0,842 0,826 0,836 0,834 0,834 0,848 Chuẩn mực chủ quan SUBJECTIVE NORM ANHHUONG1 Chuyên gia ANHHUONG2 Ti vi, báo đài ANHHUONG3 Người thân, bạn bè ANHHUONG4 Người có ảnh hưởng LONGTIN1 Thông tin được sử dụng đúng mục đích LONGTIN2 Thông tin không bị để lộ cho bên thứ ba LONGTIN3 Công nghệ an toàn LONGTIN4 Không xâm phạm quyền riêng tư LONGTIN5 Xóa mọi thông tin khi KH yêu cầu LONGTIN6 Bảo mật tại website 0,727 0,736 0,762 0,759 0,733 0,740 0,893 0,891 0,888 0,888 0,892 0,891 Ý định mua hàng INTENTION YDINH1 Sẽ mua trong tương lai YDINH2 Chắc chắn mua YDINH3 Thường xuyên sử dụng YDINH4 Giới thiệu người khác Kaiser-Meyer-Olkin Measure of Sampling Adequacy 0,856 BartlettSig.= 0,000 Nguồn Nhóm tác giả tổng hợp ISSN 1859-1531 - TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG, VOL. 20, NO. 2022 51 Kiểm định mô hình và các giả thuyết nghiên cứu Phân tích nhân tố khẳng định CFA Để đánh giá mức độ phù hợp chung của mô hình, tác giả sử dụng một số chỉ tiêu như Chi-square thỏa mãn trong khoảng [13] [45]; RMSEA xác định mức độ phù hợp với mô hình tổng thể, RMR đánh giá phương sai dư của biến quan sát thỏa mãn 0,9 thì mô hình có độ phù hợp tốt nhất Chin và Told, 1995. Tuy nhiên, CMIN/df =0,9 [47] thì kết quả được xem là phù hợp. Kết quả chạy mô hình cho kết quả các chỉ số Chi-square/df =2,214 0,9, TLI = 0,920 > 0,9, GFI = 0,885 >0,8, và RMSEA = 0,055 0,5 và các hệ số chưa chuẩn hóa đều có ý nghĩa thống kê nên các khái niệm đạt được giá trị hội tụ [48]. Bảng 3. Kiểm định độ tin cậy của mô hình Ghi chú Mức ý nghĩa của các mối tương quan † p < * p < ** p < *** p < Nguồn Phân tích từ số liệu khảo sát Kết quả kiểm định độ tin cậy của mô hình bằng phương pháp CB- SEM ở Bảng 3 cho thấy, tất cả các nhân tố đều có độ tin cậy tổng hợp Composite Reliability CR lớn hơn 0,7, đảm bảo được tiêu chuẩn kiểm định. Về tính hội tụ, các nhân tố đều có phương sai trung bình trích AVE lớn hơn 0,5 đáp ứng được tiêu chuẩn kiểm định. Tương ứng với kết quả ở Bảng 3, về tính phân biệt, tất cả các nhân tố đều có phương sai trung bình được trích AVE lớn hơn phương sai riêng lớn nhất MSV, đáp ứng tiêu chuẩn kiểm định. Vì vậy, ta kết luận các nhân tố đáp ứng được cả tính phân biệt và tính hội tụ [49]. Bảng 4. Hệ số tương quan giữa các biến Ghi chú “***” P-value nhận giá trị bé hơn 0,001 rất tốt Nguồn Phân tích từ số liệu khảo sát Thêm vào đó, tác giả đã thực hiện kiểm tra giá trị phân biệt giữa các khái niệm trong các mô hình tới hạn, mô hình mà các khái niệm tự do quan hệ với nhau. Kiểm tra hệ số tương quan xét trong phạm vi tổng thể, kết quả p-value <0,05 đã thỏa mãn giá trị phân biệt. Mô hình đo lường này phù hợp với dữ liệu thị trường và không có trường hợp các sai số của các tiêu chí có tương quan với nhau, do đó, tập biến quan sát đạt được tính đơn nguyên. Kiểm định giả thuyết bằng mô hình cấu trúc tuyến tính SEM Mô hình cấu trúc tuyến tính SEM được xây dựng từ 6 nhóm nhân tố có mối quan hệ cụ thể như giả thuyết nghiên cứu đã đưa ra. Phân tích mô hình nghiên cứu dưới dạng cấu trúc tuyến tính AMOS kết quả phân tích SEM có Chi-square/df là 2,402 <3, GFI là 0,874, TLI là 0,908, CFI là 0,919 và RMSEA là 0,059 đều thỏa mãn với điều kiện phù hợp mô hình. Có nghĩa là mô hình trên phù hợp với dữ liệu nghiên cứu. các nhân tố sự quen thuộc, chính sách bảo mật thông tin nhạy cảm, rủi ro với các thông tin cung cấp và yếu tố khách quan của người tiêu dùng trực tuyến đều có ý nghĩa thống kê vì có giá trị sig. nhỏ hơn 0,05. Hình 2. Kết quả mô hình SEM Nguồn Phân tích từ số liệu khảo sát Trong ba nhân tố độc lập tác động đến nhân tố trung gian lòng tin có ba nhân tố tác động cùng chiều với hệ số hồi quy lần lượt là Sự quen thuộc 0,229 nên giả thuyết H1 được chấp nhận; chính sách bảo mật thông tin nhạy cảm 0,172 nên giả thuyết H2 được chấp nhận; Ảnh hưởng từ yếu tố khách quan 0,512 nên giả thuyết H4 được chấp nhận. Riêng nhân tố cảm nhận rủi ro thông tin tác động ngược chiều -0,265 và giả thuyết H3 được chấp nhận. Tiếp đó, tác động của lòng tin về bảo mật thông tin đối với ý định mua hàng trực tuyến là mạnh nhất 0,516 nên giả thuyết H5 được chấp nhận. 5. Thảo luận kết quả nghiên cứu Phân tích kết quả cho thấy, bên cạnh yếu tố chủ quan từ phía người mua hàng trực tuyến như cảm giác quen thuộc, cảm nhận rủi ro thông tin đã ảnh hưởng khá rõ ràng đến lòng tin của khách hàng tiềm năng. Cảm giác quen thuộc với trang web và việc mua hàng qua mạng làm cho khách hàng thêm tự tin mua sắm qua mạng nhưng cảm nhận rủi ro rò rỉ thông tin làm cho họ có phần nào e ngại giao dịch qua mạng. Đồng thời, tác động của yếu tố chuẩn mực chủ quan đến từ các cá nhân và tổ chức có uy tín lại có ý nghĩa 52 Nguyễn Hồng Quân, Trần Thị Hiền tham chiếu rất lớn tới xây dựng lòng tin của khách hàng, đặc biệt là thông tin tham khảo từ những người nổi tiếng, chuyên gia hay bạn bè và người thân. Điểm này cũng tương đối phù hợp với bối cảnh của các nước thương mại điện tử đang phát triển như Việt Nam khi mà sự thận trọng và thông tin tham khảo từ người quen vẫn chi phối hành vi của người tiêu dùng. Kết luận này cũng tương đồng với [41] và [7] khi xem xét vấn đề bảo vệ dữ liệu cá nhân dưới góc độ hành vi tiêu dùng. Chính sách bảo mật thông tin nhạy cảm tác động rất lớn đối với lòng tin của người tiêu dùng khi cung cấp thông tin cá nhân. Điều này cho thấy, người tiêu dùng mong muốn các doanh nghiệp thương mại điện tử thiết lập quy định và quy chế rõ ràng, minh bạch và an toàn đối với thông tin mà họ đã tiết lộ. Các doanh nghiệp càng có chính sách bảo mật thông tin, đặc biệt các thông tin nhạy cảm thì người tiêu dùng càng tin tưởng vào trang web mua hàng của doanh nghiệp. Nghiên cứu đã một lần nữa khẳng định tầm quan trọng và sự tác động của bảo vệ dữ liệu cá nhân tới lòng tin và ý định mua hàng trên các website bán lẻ trong bối cảnh của Việt Nam. Kiểm chứng mô hình nghiên cứu bằng dữ liệu khảo sát, nghiên cứu cũng đã bổ sung và làm rõ hơn sự tác động của chính sách bảo vệ thông tin nhạy cảm đến lòng tin của người tiêu dùng từ đó tác động đến ý định mua hàng. Xét về mặt lý luận, nghiên cứu thực nghiệm này khẳng định thêm một lần nữa các lý thuyết trước đó như lý thuyết chấp nhận công nghệ TAM, lý thuyết hành vi tiêu dùng dự định TPB đặc trong bối cảnh thương mại điện tử B2C. 6. Kết luận, hàm ý, hạn chế của nghiên cứu và đề xuất các hướng tiếp theo Kết quả nghiên cứu cho thấy, lòng tin về bảo mật thông tin các nhân của người tiêu dùng Việt Nam có tác động cùng chiều và rất mạnh đến ý định mua hàng trực tuyến của họ. Như vậy, lòng tin có vai trò quan trọng đối với ý định mua sắm trực tuyến. Vì vậy, để tăng cơ hội kinh doanh trực tuyến, các nhà bán lẻ cần tạo dựng lòng tin của người tiêu dùng từ cơ chế bảo vệ thông tin cá nhân trên website thương mại điện tử, cụ thể Một là, tăng cường sự nhận biết trang web từ phía khách hàng Đẩy mạnh công tác truyền thông tới các tập khách hàng mục tiêu thông qua các nền tảng, đặc biệt là nền tảng số; Thiết lập các liên kết truyền thông chéo với các đối tác để cộng hưởng và tiết kiệm chi phí truyền thông; Xây dựng và phát triển hệ thống truyền thông đa kênh qua website, kênh truyền thông xã hội Facebook, Zalo, Youtube, diễn đàn, báo chí và các nền tảng khác. Hai là, xây dựng chính sách bảo vệ thông tin cá nhân Cần soạn thảo một cách cụ thể và chi tiết các quy định về chính sách bảo vệ thông tin cá nhân đặc biệt quy định về chính sách bảo vệ thông tin nhạy cảm của người tiêu dùng, công bố tới người tiêu dùng; Có cơ chế phản hồi, giám sát và kiểm soát thông tin cá nhân cung cấp cho người cung cấp thông tin; Quy định rõ các loại thông tin thu thập, mục đích thu thập, cơ chế kiểm soát, chính sách bảo mật, biện pháp an toàn và cơ chế giải quyết các vấn đề có liên quan. Ba là, có các biện pháp làm giảm cảm nhận rủi ro thông tin từ phía người tiêu dùng Thực hiện đầy đủ trách nhiệm đăng ký với cơ quan quản lý về thương mại điện tử để được gắn mã xác thực đăng ký thành công; Tham gia vào chương trình gắn nhãn chứng nhận website uy tín; Xây dựng chính sách bảo vệ thông tin cá nhân; Thiết lập cơ chế bảo mật an toàn, an ninh thông tin. Bốn là, tăng cường ảnh hưởng từ những cá nhân và tổ chức uy tín từ bên ngoài Tăng cường công tác truyền thông qua các bài viết tư vấn từ chuyên gia, người ảnh hưởng trên các nền tảng truyền thông đặc biệt là mạng xã hội, diễn đàn, báo chí; Tạo ra các chương trình thúc đẩy lan tỏa những trải nghiệm từ phía khách hàng thông qua các chương trình khuyến mại, chiết khấu, tri ân khách hàng. Nghiên cứu không thể tránh khỏi một số hạn chế. Từ ý định mua hàng đến hiện thực hóa hành vi mua còn phụ thuộc vào những yếu tố quan trọng khác như giá của sản phẩm, phân phối, vận chuyển hàng, dịch vụ sau bán hàng – là những yếu tố mà nhóm tác giả chưa có điều kiện đưa vào nội dung nghiên cứu. Chính sách bảo mật thông tin nhạy cảm và cảm nhận rủi ro thông tin là những yếu tố có mức độ tác động khác nhau tới ý định mua hàng của khách hàng tiềm năng đối với các nhóm tuổi khác nhau song yếu tố tuổi tác cũng chưa được phân tích cụ thể trong nghiên cứu này. Nhóm tác giả đề xuất đây sẽ là các hướng nghiên cứu trong các nghiên cứu tiếp theo. TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] Hạnh Bạch. “Người Việt ngày càng ưu tiên mạng xã hội và mua sắm qua di động”. Link truy cập congdong/topic/29765-Digital-Vietnam-2021-We-Are-Social-Nguoi-Viet-ngay-cang-uu-tien-mang-xa-hoi-va-mua-sam-qua-di-dong, truy cập ngày 03/10/2022. [2] VOV. “Nguy hiểm từ việc lọt, lộ thông tin cá nhân trên mạng”. Trang tin điện tử Đài tiếng nói Việt Nam, 2021, truy cập từ [3] Anh Đại. “Rủi ro đăng tải thông tin cá nhân”. Báo nhân dân điện tử, 2020, truy cập từ [4] Vinasa. “Mất an toàn thông tin cá nhân trên mạng đang là vấn đề lo ngại”. Hiệp hội an toàn thông tin Việt Nam, 2021, truy cập từ [5] Wirtz, J., Lwin, M. O., và Williams, J. D. “Causes and consequences of consumer online privacy concern”. International Journal of Service Industry Management, 184, 2007, 326-348. [6] Kim, J. W., Kim, D. H., và Jang, B. “Application of local differential privacy to collection of indoor positioning data”. IEEE Access, 6, 2018, 4276-4286. [7] Xu, F., Michael, K., và Chen, X. “Factors affecting privacy disclosure on social network sites an integrated model”. Electronic Commerce Research, 132, 2013, 151-168. [8] Nguyễn Hồng Quân. “Trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp số đối với vấn đề bảo vệ dữ liệu cá nhân khách hàng trong kỷ nguyên Nhìn từ khía cạnh pháp lý và thực thi”. Tạp chí Kinh tế Đối ngoại, 104, 2018, 104-117. [9] Trần Thị Thập. “Đảm bảo an toàn thông tin trong thương mại điện tử Mô hình từ doanh nghiệp đến doanh nghiệp ở Việt Nam’. Tạp chí Kinh tế và Kinh doanh VNU, 321, 2016, 22-30. [10] Nguyễn Hồng Quân, Phạm Thị Xuyến, Nguyễn Thị Thủy, Đinh Xuân Phan Anh. “Tác động của các nhân tố bảo vệ dữ liệu cá nhân đến hành vi của người tiêu dùng trực tuyến”. Tạp chí Kinh tế và Dự báo, 24742, 2020, 77-81. [11] Milne, George R. and Mary E. Gordon. “Direct Mail PrivacyEfficiency Trade-Offs Within an Implied Social Contract Framework”. Journal of Public Policy và Marketing, 12, 1993, 206-215. [12] EU. “Regulation EU 2016/679 of the european parliament and of ISSN 1859-1531 - TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG, VOL. 20, NO. 2022 53 the council”. 2016, Link [13] Inman, J. J., và Nikolova, H. “Shopper-facing retail technology A retailer adoption decision framework incorporating shopper attitudes and privacy concerns”. Journal of Retailing, 931, 2017, 7-28. [14] Grandison, T. and Sloman, M. “A survey of trust in internet applications”. IEEE Communications Survey and Tutorials, 34, 2000, 2–16. [15] Fukuyama, F. “Trust Still Counts in a Virtual World”. Forbes ASAP Supplement, No. 01337051, 1996, 33-69. [16] Hoffman, Novak, “Building consumer trust online”. Communications of the ACM, 424, 1999, 80–85. [17] Milne, Boze, M. “Trust and concern in consumers’ perceptions of marketing information management practices”. Journal of Interactive Marketing, 131, 1999, 5–24. [18] Chang, S. E., Liu, A. Y., và Shen, W. C. “User trust in social networking services A comparison of Facebook and LinkedIn”. Computers in Human Behavior, 69, 2017, 207-217. [19] Ajzen, I. “The theory of planned behavior”. Organizational Behavior and Human Decision Processes, 50 2, 1991, 179 – 211. [20] Kotler, P., và Lee, N. “Best of breed When it comes to gaining a market edge while supporting a social cause, “corporate social marketing” leads the pack”. Social marketing quarterly, 113-4, 2005, 91-103. [21] Albarracin, D., Johnson, Fishbein, M., Muellerleile, “Theories of reasoned action and planned behavior as models of condom use a meta-analysis”. Psychological Bulletin, 1271, 2001, 142–161. [22] Delafrooz, N., Paim, L. H., và Khatibi, A. “Understanding consumer internet purchase intention in Malaysia”. African Journal of Business Management, 57, 2011, 2837-2846. [23] Heijden, Verhagen, T. “Measuring and assessing online store image a study of two online bookshops in the Benelux”. Proceedings of the 35th Annual Hawali International Conference on System Sciences, 2002, 2639-2646. [24] Gulati, R. “Does familiarity breed trust? The implications of repeated ties for contractual choice in alliances”. Academy of management journal, 381, 1995, 85-112. [25] Gefen, D., E. Karahanna, and D. W. Straub “Trust and TAM in online shopping An integrated model”. MIS Quarterly, 271, 2003, 51-90. [26] Afshan, S., & Sharif, A., “Acceptance of mobile banking framework in Pakistan”. Telematics and Informatics, 332, 2016, 370-387. [27] Chang, M. K., “Predicting unethical behavior a comparison of the theory of reasoned action and the theory of planned behavior”. Journal of business ethics, 1716, 1998, 1825-1834. [28] Ajzen, I., & Madden, J.. “Prediction of goal-directed behavior Attitudes, intentions, and perceived behavioral control”. Journal of Experimental Social Psychology, 22, 1986, 453–474. [29] Tarkiainen, A., & Sundqvist, S.. “Subjective norms, attitudes and intentions of Finnish consumers in buying organic food”. British food journal, 1043/4/5, 2005 345-352. [30] Bhattacherjee, A. “Individual trust in online firms Scale development and initial test”. Journal of Management Information Systems, 191, 2002, 211-241. [31] Luhmann, N. “Familiarity, confidence, trust problems and alternatives. Trust making and breaking cooperative relations”. Electronic edition ed. Oxford University of Oxford, 2000, 94-107. [32] Afshan, S., và Sharif, A. “Acceptance of mobile banking framework in Pakistan”. Telematics and Informatics, 332, 2016, 370-387. [33] Smith, H. J., Milberg, S. J., và Burke, S. J. “Information privacy Measuring individuals' concerns about organizational practices”. MIS quarterly, 1996, 167-196. [34] Li, Y. “Empirical studies on online information privacy concerns Literature review and an integrative framework”. Communications of the Association for Information Systems, 281, 2011, 28. [35] Mothersbaugh, D. L., Foxx, W. K., Beatty, S. E., và Wang, S. “Disclosure antecedents in an online service context The role of sensitivity of information”. Journal of service research, 151, 2012, 76-98. [36] Pavlou, P. A. “State of the information privacy literature Where are we now and where should we go?”. MIS quarterly, 2011, 977-988. [37] Bhimani, A. “Securing the commercial Internet”. Communications of the ACM, 396, 1996, 29-35. [38] Swaminathan, V., Lepkowska-White, E. và Rao, B. P. “Browsers or buyers in cyberspace? An investigation of factors influencing electronic exchange”. Journal of computer-mediated communication, 52, 1999, 523. [39] Freberg, K., Graham, K., McGaughey, K., và Freberg, L. A. “Who are the social media influencers? A study of public perceptions of personality”. Public relations review, 371, 2011, 90-92. [40] Ajzen, I.. “From intentions to actions A theory of planned behavior”. Ina J. Kuhl & J. Beckmann Eds., Action control From cognition to behavior. Berlin, Heidelber, New York Springer-Verlag, 1985, 11-39. [41] Liu, C., Marchewka, J. T., Lu, J., và Yu, C. S. “Beyond concern—a privacy-trust-behavioral intention model of electronic commerce”. Information và Management, 422, 2005, 289-304. [42] Quan, N., Chi, N., Nhung, D., Ngan, N., và Phong, L. “The influence of website brand equity, e-brand experi-ence on e-loyalty The mediating role of e-satisfaction”. Management Science Letters, 101, 2020, 63–76. [43] Jarvenpaa, S. L., N. Tractinsky, and M. Vitale. "Consumer trust in an internet store," Information Technology and Management, 1 1-2, 2000, 45-71. [44] Davis, F. D., Perceived usefulness, perceived ease of use, and user acceptance of information technology”, MIS quarterly, 1989, 319-340. [45] Hair, J. F., Anderson, R. E., Tatham, R. L., và William, C. “Multivariate data analysis. Upper Saddle River”, NJ Prentice hall, 53, 1998, 87-135. [46] Carmines, E. G., và McIver, J. P. “Analyzing models with unobserved variables”. Social Measurement Current Issues, 80, 1981, 65–115. [47] Bentler, P. M., và Bonett, D. G. “Significance tests and goodness of fit in the analysis of covariance struc-tures”. Psychological bulletin, 883, 1980, 588–606. [48] Anderson, J., và David, G. “Structural equation modeling in practice A review and recommended two-step approach”. Psychological Bulletin, 1033, 1988, 411–423. [49] Fornell, C., & Larcker, D. F., “Structural equation models with unobservable variables and measurement error Algebra and statistics”. Journal of public policy & marketing, 183 1981, 382-388. ResearchGate has not been able to resolve any citations for this publication. Quân Nguyễn HồngDữ liệu cá nhân là đầu vào rất có giá trị đối với nền kinh tế số, vì thế mà có hiện tượng doanh nghiệp kinh doanh trực tuyến lạm dụng dữ liệu cá nhân của khách hàng. Nghiên cứu sử dụng mô hình kinh tế lượng để phân tích mối quan hệ giữa bảo vệ dữ liệu cá nhân với hành vi của người tiêu dùng trực tuyến, trên cơ sở khảo sát 350 khách hành tại các trang mua sắm trực tuyến. Kết quả cho thấy, có 4 nhân tố tác động đến hành vi của người tiêu dùng trực tuyến, trong đó các nhân tố i Rủi ro về bảo mật dữ liệu và ii Yêu cầu thông tin nhạy cảm có tác động cùng chiều đến mức độ lo ngại về bảo mật dữ liệu của người tiêu dùng trực tuyến; iii Mức độ kiểm soát dữ liệu cá nhân và iv Mức độ lo ngại về bảo mật dữ liệu cá nhân có tác động ngược chiều đến mức độ sẵn sàng cung cấp dữ liệu của người tiêu dùng trực tuyến. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đưa ra một số hàm ý quản trị đối với doanh nghiệp kinh doanh trực tuyến. Personal information is a valuable input of the digital economy so some electronic commerce organization desired to utilize them from their customers. This research used econometrics model to analyze the relationship between personal information privacy and e-commerce customers’ behavior based on the survey of 350 customers on online shopping websites. The result showed that there are 4 factors affecting to online buyers’ behavior including i privacy risk and ii sensitive information that have positive impact to privacy concern of online customers; iii control information level and iv privacy concern level have negative impact to information disclose intention of online customers. Therefore, research suggests some administrative implications for online business enterprises. Key words personal information privacy, online customers, online business enterprise, electronic commerce, impact, factor. GIỚI THIỆU Thương mại điện tử TMĐT đã và đang là xu hướng tất yếu trong giao dịch thương mại, từng bước thay đổi thói quen tiêu dùng của người dân và phương thức kinh doanh của doanh nghiệp. Ở Việt Nam, tốc độ tăng trưởng của TMĐT luôn đạt từ 25%-30%/năm trong những năm vừa qua. Tính riêng năm 2019, tốc độ tăng trưởng thương mại điện tử của Việt Nam đạt 27% với tổng doanh thu bán lẻ B2C Business to customer đạt 13 tỷ USD [1]. TMĐT mang lại nhiều lợi ích cho người tiêu dùng nhưng cũng tiềm ẩn không ít rủi ro, đặc biệt về vấn đề bảo mật dữ liệu cá nhân của người tiêu dùng trực tuyến. Tìm hiểu tác động từ các yếu tố bảo mật dữ liệu cá nhân tới sự sẵn sàng cung cấp thông tin cá nhân của người tiêu dùng trực tuyến, có ý nghĩa thực tiễn đối với phát triển TMĐT ở Việt Nam hiện nay. Quân Nguyễn HồngTóm tắt Trải qua 20 năm xây dựng và phát triển công nghệ số ở Việt Nam, một thế hệ các doanh nghiệp hoạt động trên nền tảng công nghệ này đã xuất hiện vừa đem lại nhiều tiện ích nhưng cũng tiềm ẩn những rủi ro cho khách hàng trong quá trình thực hiện các giao dịch. Đặc biệt, khi gần đây, nhiều khách hàng đã phát hiện thông tin cá nhân của mình bị phát tán, trao đổi, mua bán một cách công khai từ các nhà cung cấp dịch vụ và đã gây ra nhiều hậu quả, phiền toái và tiềm ẩn nhiều rủi ro cho khách hàng. Vấn đề bảo vệ dữ liệu cá nhân đã được quy định tại một số văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước cùng với cơ chế xử phạt khi vi phạm. Tuy nhiên, hơn bao giờ hết, hiệu quả chỉ có thể đạt được khi các doanh nghiệp số và các chủ thể tham gia phải có ý thức cao. Đặc biệt doanh nghiệp cần coi đây là trách nhiệm xã hội Corporate Social Responsibility-CSR của mình khi khách hàng đã tin cậy và cung cấp những thông tin cá nhân những điều bí mật đời tư cho mình. Bài viết nhằm hệ thống hóa một số quan điểm bảo vệ dữ liệu cá nhân gắn với CSR của doanh nghiệp số, quy định pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân ở Việt Nam, tình hình bảo vệ dữ liệu cá nhân trên mạng, những thông tin cá nhân ở các cấp độ và khuyến nghị đối với Nhà nước, doanh nghiệp trong vấn đề bảo vệ thông tin cá nhân. Từ khóa Trách nhiệm xã hội, Doanh nghiệp số, Bảo vệ dữ liệu cá nhân, Privacy, CSR Abstract Over 20 years of building and developing digital technology in Vietnam, a new generation of enterprises operating on the technology platform has grown up and brought many benefits but are also involved in numerous risks to the customers in transaction. In particular, personal data of customers has been dispersed, exchanged, purchased publicly from service providers and has caused numerous consequences, nuisances and potential risks for customers. The protection of personal data of customers has been stipulated in some legal documents and the mechanism of punishment. However, efficiency can only be achieved when digital enterprises and stakeholders are highly aware of the importance of privacy. These points to the need of businesses taking it as their social responsibility when customers trust and provide personal information privacy for them. This paper aims 1 Trường Đại học Ngoại thương,Jong Wook KimDae-Ho KimBeakcheol JangBig data, which is being explosively generated in various areas, is considered as a new growth engine for diverse industries. In recent years, analysis of big data has attracted attention because it exhibits the potential to generate high value. In addition, with the advent of the IoT era, wherein each object is connected to all the others in a system, the importance of big data is likely to continue to be emphasized, due to the availability of data generated from diverse devices. With the increasing importance of indoor space in which most city dwellers spend over 80% of daily life, big data containing users’ indoor positioning information is a critical asset for understanding the indoor behavior pattern of users, such as the shopping behavior pattern of customers in a large department store. However, there is also a risk of leakage of personal information because it is feasible to infer the users’ sensitive information by tracking and analyzing the users’ indoor positions. Local differential privacy LDP is the state-of-the-art approach that is used to protect individual privacy in the process of data collection. LDP ensures that the privacy of the data contributor is protected by perturbing her/his original data at the data contributor’s side; thus, the data collector cannot access to the original data, but is still possible to obtain population statistics. This paper focuses on the application of LDP to the collection of indoor positioning data. In particular, we experimentally evaluated the utilization of indoor positioning big data collected by leveraging LDP for estimating the density of the specified indoor area. Experimental results with both synthetic and actual data sets demonstrate that LDP is well applicable to the collection of indoor positioning data for the purpose of inferring population innovation and new technology are critical in helping retailers’ create a sustainable competitive advantage. In particular, shopper-facing technology plays an important role in increasing revenues and decreasing costs. In this article, we briefly discuss some of the salient retail technologies over the recent past as well as technologies that are only beginning to gain traction. Additionally, we present a shopper-centric decision calculus that retailers can use when considering a new shopper-facing technology. We argue that new technologies provide value by either increasing revenue through a attracting new shoppers, b increasing share of volume from existing shoppers, or c extracting greater consumer surplus, or decreasing costs through offloading labor to shoppers. Importantly, our framework incorporates shoppers by considering their perceptions of the new technology and their resulting behavioral reactions. Specifically, we argue that shoppers update their perceptions of fairness, value, satisfaction, trust, commitment, and attitudinal loyalty and evaluate the potential intrusiveness of the technology on their personal privacy. These perceptions then mediate the effect of the technology on shopper behavioral reactions such as retail patronage intentions and WOM communication. We present preliminary support for our framework by examining consumers’ perceptions of several new retail technologies, as well as their behavioral intentions. The findings support our thesis that shopper perceptions of the retailer are affected by new shopper-facing technologies and that these reactions mediate behavioral intentions, which in turn drives the ROI of the new issues relating to goodness of fit in structural equations are examined. The convergence and differentiation criteria, as applied by Bagozzi, are shown not to stand up under mathematical or statistical analysis. The authors argue that the choice of interpretative statistic must be based on the research objective. They demonstrate that when this is done the Fornell-Larcker testing system is internally consistent and that it conforms to the rules of correspondence for relating data to abstract variables. George MilneMary Ellen GordonThe authors conceptualize direct mail as an implied social contract between marketers and consumers. Four attributes constitute the direct mail social contract volume, targeting, compensation, and permission. Several proposals have been advanced in an effort to protect consumer privacy in the direct mail environment. These proposals would directly or indirectly result in changes in the levels of the social contract attributes. The authors use a conjoint study to measure the trade-offs consumers make among these attributes. The results suggest consumers want improved targeting efficiency and lower mail volume, and they are not willing to pay for these improvements. These findings suggest that consumers consider several attributes in their evaluation of direct mail social contracts. Proposals to alter the direct mail environment must consider all these attributes in innovative social networking services SNS provide people with versatile personal, commerce, and social applications. This study compares Facebook and LinkedIn to better understand factors affecting users' trust on SNS. Subject domain experts were invited to participate in qualitative research based interviews. Using the refined research model a quantitative empirical study was designed and conducted to investigate the relationships between important constructs including effort expectancy, social influence, privacy concern, perceived risk, trust, and continuance intention. Users' trust on SNS is mainly influenced by effort expectancy, social influence, and perceived risk. The impacts of influential factors are different between Facebook and LinkedIn user groups. Our empirical results imply that when the positive influences, such as effort expectancy of the online community, users from different SNS have different needs in social reputation, or high security compliance, in consideration of the negative influence of perceived risk to users' trust when continuing to use the SNS. This study presents a conceptual framework using extant theories and models to form a foundation for SNS incorporating the important factors of trust and privacy concerns.
Sự phát triển của các trang thương mại điện tử kéo theo nhiều thách thức về bảo mật, kìm hãm sự phát triển doanh nghiệp. Vì vậy, hãy tìm hiểu bài viết sau để hạn chế các rủi ro không đáng có!3 Phương pháp nâng cao độ bảo mật của Website thương mại điện tửDù là một thương hiệu lớn hay nhỏ, một khi đã gia nhập vào thị trường thương mại điện tử thì đều có nguy cơ bị tấn công bởi tin tặc và phần mềm độc hại,… Website thiếu bảo mật sẽ đánh mất lòng tin của khách hàng và ảnh hưởng nghiêm trọng đến danh tiếng của thương đây, CHILI sẽ mách cho bạn ba cách đơn giản để nâng cao mức độ bảo mật cho Website thương mại điện tử và yên tâm đẩy mạnh doanh số Thực trạng vấn đề bảo mật của Website thương mại tử hiện nayTấn công mạng luôn là cơn ác mộng đối với các Website thương mại điện tử. Vì không trực tiếp, thì cũng gián tiếp ảnh hưởng đến uy tín, doanh thu của doanh nghiệp. Bên dưới đây là một số hình thức đánh cắp dữ liệu phổ lận thanh toán trên Website thương mại điện tửĐây là vấn đề “đau đầu” của các doanh nghiệp khi đã xuất hiện từ khi thương mại điện tử ra đời. Hình thức này là kẻ gian lợi dụng lỗ hổng cổng thanh toán, nhằm thực hiện những giao dịch ảo, gây ra thiệt hại to lớn về doanh thu cho doanh thức PhishingĐây là hình thức rủi ro phổ biến trong việc bảo mật Website thương mại điện tử. Hacker sẽ tạo Website giả, tương tự như Website của bạn. Mục đích là làm cho khách hàng nhầm lẫn và nhập các thông tin quan trọng. Hoặc là chúng gửi Email, tin nhắn nhằm chiếm được lòng tin của khách hàng. Từ đó, Hacker sẽ đánh họ để lấy cắp thông tin nhạy cảm như thẻ tín dụng, mật khẩu,…Chương trình thu thập dữ liệu từ Website BotHacker thu thập dữ liệu thông qua lỗ hổng hệ thống sẽ thu thập dữ liệu, thông tin quan trọng từ Website của bạn, lợi dụng để làm lợi thế cạnh tranh. Một số thông tin bị đánh cắp như Mặt hàng đang bán chạy, số lượng hàng bán, số lượng hàng tồn,… Những thông tin này sẽ ảnh hưởng gián tiếp đến doanh thu Website thương mại điện tử của bạn, nếu kẻ gian biết tận đặt bảo mật Website bằng PluginBạn có biết các lỗ hổng bảo mật liên quan đến Plugin được ghi nhận trên WordPress lên đến 52%? Vì vậy, Plugin là thứ giúp cho Website của bạn nổi bật so với các chủ sở hữu Website thương mại điện tử trên cùng nền tảng dụng Plugin giúp hỗ trợ bảo mật WebsitePlugin là một công cụ hỗ trợ tính năng cho sự phát triển của Website cài đặt với WordPress. Bạn có thể tùy chỉnh trang Web theo chính xác những gì bạn mong muốn với Plugin. Các tùy chỉnh sẽ giúp Website của bạn nổi trội hơn so với các trang thương mại điện tử khác của đối thế nữa, Plugin còn giúp bạn trong việc bảo mật Website khỏi tin tặc và các phần mềm độc hại. Không ai ngoài bạn có thể truy cập vào thông tin, dữ liệu trên Website của bạn nếu bạn đã cài đặt Plugin bảo mật. Khi có những mã hóa bất thường, nghi ngờ do những kẻ xấu xâm nhập nhằm phá hoại Website sẽ được Plugin phát hiện đặc điểm của một Plugin bảo mật tốtPhát tín hiệu cảnh báo ngay sau khi phát hiện có điều bất thườngLoại bỏ Bot trước khi chúng xuất xuyên quét các phần mềm độc hại, nhằm phát hiện ra các mối đe dọa tiềm tàngTheo dõi các hoạt động trên Website của bạn thông qua tường lửaViệc tìm kiếm một Plugin tốt cho ngân sách hạn chế không phải quá khó, vì đa số các Plugin bảo mật đều miễn phí. Hãy tìm hiểu thêm và lựa chọn cho trang thương mại điện tử của bạn một Plugin phù hợp dụng cổng thanh toán an toànSử dụng cổng thanh toán an toàn giúp tạo nên uy tín doanh đặc biệt hấp dẫn với các cổng thanh toán trên Website thương mại điện tử. Vì nơi này chứa các thông tin giao dịch của người dùng, đặc biệt là thông tin thẻ tín cấp cho khách hàng cổng thanh toán an toàn giúp cải thiện doanh số lẫn mức độ tương tác. Hãy làm cho khách hàng cảm thấy an tâm khi mua sắm trên trang thương mại điện tử của bạn. Việc này giúp nâng cao trải nghiệm của họ cũng như uy tín doanh nghiệp. Nếu khách hàng cảm thấy thông tin cá nhân không được bảo mật tốt, rất có thể bạn sẽ mất đi khách hàng trung sử dụng các trang thanh toán được tối ưu hóa, tỷ lệ chuyển đổi sẽ tăng lên. Khách hàng sẽ được mã hóa thông tin thẻ tín dụng trên Website thông qua cổng thanh toán. Bởi vì sự an toàn mà Website bạn mang lại sẽ giúp khách hàng cảm thấy an tâm khi mua sắm. Không một ai muốn bị lộ thông tin, đặc biệt là các thông tin liên quan đến việc thanh chọn một cổng thanh toán thuận tiện cho khách hàng, cũng như các mục tiêu tiếp thị mà doanh nghiệp bạn hướng đến. Cân nhắc cải thiện các phương thức thanh toán được sử dụng nhiều nhất nhằm nâng cao trải nghiệm khách dụng HTTPSHTTPS là tiêu chuẩn phải có của các Website thương mại điện với các trang thương mại điện tử, HTTPS là tiêu chuẩn bắt buộc phải có. Đây là giao thức giúp bảo mật các thông tin, dữ liệu trên Website giữa Client và dụng HTTPS để đảm bảo tính bảo mật và quyền riêng tư của khách hàng. Việc này nhằm bảo vệ khách hàng khi họ nhập các thông tin trên Website của có những lợi ích đối với trang thương mại điện tử như sauTăng sự tin tưởng của khách hàng, thông qua khóa bảo mật trên trang WebWebsite an toàn và thân thiện với người dùng, điều này có lợi cho SEOKhông bị các trình duyệt duyệt Web chặn vì bảo mật kémBạn cần có chứng chỉ SSL trước khi sử dụng HTTPS. URL của Website bạn sẽ hiển thị cho khách hàng thấy đây là kết nối an toàn sau khi cài đặt xong. Kết luậnBảo vệ khách hàng và dữ liệu là ưu tiên hàng đầu để có một trang Web thương mại điện tử thành công. Khi khách hàng cảm thấy an toàn khi sử dụng Website của bạn sẽ giúp nâng cao uy tín doanh nghiệp. Đồng thời, việc này cũng giúp tăng chuyển đổi và doanh số. Tăng cường bảo mật cho Website thương mại điện tử của bạn là điều vô cùng cần thiết. Chính vì vậy, hãy triển khai các phương pháp bảo mật từ hôm nay bạn nhé!
Bảo mật điện tử là một nhân tố tối quan trọng cho sự phát triển bền vững của TMĐT. Tuy nhiên, đây cũng là một đề tài nhức nhối vì mọi vấn đề bao giờ cũng có mặt trái như một thể thống nhất của vạn vật và mặt trái của Internet là đã tạo ra một môi trường trú ngụ cho các tin tặc đang sở hữu những công cụ tự động hoá ngày càng phức tạp về hiệu quả phá hoại trong khi các năng lực cần thiết để làm chủ chúng lại càng giảm dần theo thời gian. Do đó, không một tổ chức hay quốc gia nào có thể nói mạnh là mình đã hoàn toàn “miễn dịch” đối với tin tặc, dù đó là Microsoft hay Chính phủ Hoa Kỳ. Ở Việt Nam, bảo mật điện tử tuy mới được đặt ra trong vài năm trở lại đây nhưng đã được các tổ chức hữu quan, đơn vị thực hiện chức năng mạng, doanh nghiệp và cộng đồng đặc biệt quan tâm và đầu tư xây dựng. Đây là cơ sở để Chính phủ ban hành Nghị định về mật mó thương mại, trong đó sẽ quy định một số tiêu chuẩn mật mó sẽ sử dụng cho các tổ chức và cá nhân hoạt động trong lĩnh vực thương mại điện tử. Hiện nay thị trường bảo mật thông tin của Việt Nam vẫn cũn bỏ ngỏ. Cỏc cụng ty tự động áp dụng các biện pháp bảo mật khác nhau. Ban Cơ yếu Chính phủ chưa có nhiều kinh nghiệm về bảo mật thông tin thương mại cũng như cung cấp dịch vụ, bao gồm cung cấp các thiết bị mật mó, cài đặt phần mềm, thiết bị xác thực. Tuy nhiên, Ban Cơ yếu Chính phủ đó xõy dựng một tiểu dự ỏn nằm trong dự ỏn quốc gia về thương mại điện tử, có tên gọi là “Xây dựng hạ tầng cơ sở bảo mật thông tin trong hệ thống thương mại điện tử của Việt Nam”, trong đó trỡnh bày tất cả những thuận lợi, khú khăn và thách thức đối với công tác bảo mật thông tin. Với năng lực bảo vệ cơ sở hạ tầng công nghệ chống lại khủng bố hệ thống mạng cũng như ngăn chặn việc sử dụng tài nguyên thông tin vào mục đích phạm pháp như ở nước ta hiện nay, bảo mật điện tử chắc chắn sẽ không đáp ứng được nhu cầu của TMĐT được dự báo sẽ phát triển như vũ bão trong những năm tới. Sự tiếp cận và phát triển TMĐT ở Việt Nam là một tất yếu trong bối cảnh và xu thế chung của nền kinh tế toàn cầu. Nhưng để có thể phát triển TMĐT ở Việt Nam nhất thiết phải cú một quỏ trỡnh chuẩn bị, tạo lập các điều kiện cần thiết. Quỏ trỡnh đó tuỳ thuộc nhiều vào quan điểm, cách nhận thức vấn đề và chiến lược thương mại điện tử. Cần coi trọng chuẩn bị môi trường lâu dài, tránh sa vào các hoạt động “phô diễn” ít hiệu quả, mà có thể đưa lại các hệ quả không mong muốn. Quyết định khó khăn khi chọn trường đào tạo nhân sự Trong quá trình ra quyết định chọn ngành thi đại học đa số các bạn học sinh ngày nay chọn ngành thiên về lĩnh vực tự nhiên nhiều hơn xã hội, điều này cũng phù hợp với thực quá trình ra quyết định chọn ngành, chọn trường thi vào nghề nhân sự thì kiến của ý cha mẹ, anh chị em trong gia đình rất quan trọng đối với các bạn, phần lớn các bạn cho rằng kiến của cha mẹ, anh chị trong gia đình là có giá trị nhất. Mặt khác các bạn học sinh ngày nay luôn tự ý thức về bản thân và gia đình, lựa chọn ngành nghề hay trường đại học phù hợp với năng lực bản thân cũng như tài chính gia đình. Hầu hết các bạn học sinh đều chọn các ngành nhân sự đều có tham vọng lớn, tầm nhìn rộng nhưng các em không biết bắt đầu từ đâu, các em nghĩ đến tương lai nhưng không hiểu quá trình học đại học ở trường sẽ giúp các em những gì. Để tham khảo thêm về nghề tổng vụ nhân sự các em nên xem thêm thông tin và chia sẻ của các chuyên gia, người đi trước tại trang web VieclamBank. Đây là một trang web chuyên tuyển dụng nhân sự cho các công ty Nhật Bản, hầu hết các ý kiến đều thực tế, bổ ích. .
TechblogSecurityHiện nay, bảo mật trong thương mại điện tử vẫn đang là vấn đề nhức nhối nhưng đa số các doanh nghiệp lại khá lơ là, tiềm tàng những nguy cơ có khả năng gây thiệt hại lớn cho doanh nghiệp bất cứ khi nào. Hãy cùng Bizfly Cloud điểm qua 6 lỗ hổng phổ biến với các website TMĐT đa số doanh nghiệp đều gặp phải trong bài viết sau đây!Mua nhanh, bán gọn, lựa chọn dễ dàng, thanh toán đơn giản là những ưu điểm vượt trội của thương mại điện tử trong thời đại người tiêu dùng ngày càng mong muốn tiết kiệm thời gian và đề cao tính tiện vì sự bao phủ rộng khắp của các sàn thương mại điện tử nên nó đang trở thành mục tiêu chính của những kẻ tấn công với ý đồ xấu. Tận dụng các lỗ hổng sau đây mà website thương mại điện tử của doanh nghiệp của bạn sẽ bị tấn công bất cứ lúc nào. Hãy cùng điểm Lỗ hổng trong các thao tác về giáKhi lựa chọn một món đồ vào giỏ hàng, thường sẽ có 2 giá trị kèm theo 2 biến sẽ được gửi đến hệ thống máy chủ dưới dạng một lệnh POST Tên cả của món đồ. Chính trong lúc này, tin tặc có thể ngăn chặn lệnh và thay đổi mức giá của sản phẩm. Lỗ hổng này đã rất phổ biến từ mấy năm trước, tuy nhiên đến nay đã ít ảnh hưởng hơn tới các website do nhận thức của lập tình viên cũng như các nền tảng thư viện, mã nguồn mở hỗ cách khai thác khác nữa của tin tặc là chuyển đổi loại tiền tệ. Chẳng hạn, việc thay đổi từ đồng đô-la Mỹ sang Việt Nam Đồng sẽ khiến giá cả chênh lệch cả ngàn lần. Cách khai thác này là do trước đó, tin tặc đã đăng nhập thành công vào hệ thống với tư cách quyền quản trị hàng hóa và thay đổi giá cả sản phẩm trước khi khách hàng đặt mua sản phẩm, hay có thể giảm giá 100% cho khách hàng. Nếu bạn là người bán hàng và phải cấp quyền truy cập cho nhiều nhân viên, hãy chú trọng đến việc thiết lập một hệ thống tối ưu giúp bạn kiểm soát được những rủi ro có thể xảy Lỗ hổng trong việc đặt tên hoặc số thẻ khách hàng theo thứ tự6 lỗ hổng bảo mật phổ biến trong thương mại điện tửĐể gia tăng khách hàng thường xuyên và trung thành, các hệ thống kinh doanh, bán lẻ thường tạo ra các thẻ khách hàng thân thiết và tích điểm sau mỗi lần mua sắm. Và để thuận tiện nhất, các hệ thống kinh doanh này thường tạo tài khoản thẻ cho khách hàng kiểu tịnh tiến. Ví dụ số thẻ của bạn là 123456 thì người tiếp theo là 123457. Chính vì sự tuần tự này, tin tặc hoàn toàn có thể dễ dàng có tên tài khoản và từ đó tìm cách đánh cắp được mật khẩu của những khách hàng khác rồi sử dụng tiền của họ. Rất đơn giản nhưng lỗ hổng này vẫn đang bị bỏ Lỗ hổng trong việc đặt tên cho mã phiếu giảm giá mua hàngNgoài thẻ tích điểm thì phiếu giảm giá mua hàng cũng là một mục tiêu của tin tặc. Chẳng hạn, bạn đang có 2 phiếu mua hàng, một chiếc giảm giá 10% và bạn muốn đăng bán online phiếu đó, một chiếc giảm giá 50% và bạn muốn để lại cho bạn bè thân thiết của mình. Như vậy, mã của 2 chiếc coupon này sẽ là SuperCheap_10 và SuperCheap_50. Lúc này, tin tặc cũng có thể thao tác tương tự như lỗ hổng thứ 2 đã trình bày ở trên thử tên thẻ tích điểm khách hàng kiểu tịnh tiến.4. Lỗ hổng trong việc đo lường mặt hàng trong khoCách khai thác này thường được các đối thủ cạnh tranh trong cùng ngành, cùng lĩnh vực kinh doanh sử dụng. Họ sẽ đo lường và dự đoán kho hàng của bạn bằng cách đặt mua các sản phẩm vào giỏ hàng cho đến khi hệ thống bán hàng báo sản phẩm đã hết. Thông tin về số lượng sản phẩm mà bạn có trong kho hàng sẽ được các đối thủ cạnh tranh sử dụng để dự đoán kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp. Từ đó, không thể loại trừ trường hợp họ sẽ tìm cách phá vỡ những kế hoạch kinh doanh ấy của bạn. Ví dụ, đối thủ sẽ triển khai kế hoạch kinh doanh giống y hệt nhưng họ sẽ đẩy mạnh và cải tiến nó sao cho hấp dẫn hơn, sau đó công khai và chạy chiến dịch đó trước khi doanh nghiệp bạn kịp tung ra. Vậy là bạn đã mất một ý tưởng kinh doanh chỉ vì lỗ hổng Các cuộc tấn công DDoS nhằm vào website thương mại điện tửCác cuộc tấn công DDoS là kiểu khai thác đã phổ biến từ lâu nhưng gần đây được sử dụng nhiều và thường xuyên hơn. Nếu trang web của bạn có vấn đề và không thể hoạt động, đương nhiên bạn sẽ không thể bán hàng được và khách hàng lúc này sẽ bắt đầu rời bỏ website của bạn và đi tìm những địa chỉ bán hàng trực tuyến khác. Đa số khác hàng sẽ lựa chọn ghé thăm và mua hàng tại website của kẻ tấn công. Nhằm khiến cho tình hình trở nên tồi tệ hơn, kẻ tấn công sẽ tìm cách khiến trang web của bạn ngưng hoạt động trong thời gian càng lâu càng tốt. Cho dù khi bạn đã khắc phục xong hệ thống và hoạt động trở lại thì các hậu quả vẫn còn sức ảnh hưởng đến một thời gian sau nữa, một số lượng lớn khách hàng bắt đầu quên bạn và trở thành khách hàng thân thiết của những hệ thống thương mại điện tử Đánh cắp thẻ tín dụng trong quá trình mua hàng trên website TMĐT của doanh nghiệpMục đích của kiểu tấn công này là khiến nhà bán lẻ vướng vào những vụ giải quyết khiếu nại đau đầu, từ đó làm suy giảm uy tín, danh tiếng của doanh nghiệp thức chung đó là tin tặc sẽ đánh cắp thông tin của rất nhiều thẻ tín dụng, sử dụng chúng vào việc mua sản phẩm tại hệ thống bán lẻ mục tiêu. Khi ngân hàng phát hiện thẻ bị đánh cắp được sử dụng, họ sẽ thông báo và yêu cầu bồi hoàn. Lúc này, hệ thống bán lẻ mục tiêu sẽ phải đau đầu khi giải quyết những thủ tục bồi hoàn với bên ngân hàng. Bên cạnh đó, phí bồi hoàn cũng khá cao. Đặc biệt, trong trường hợp sản phẩm đã giao thì họ cũng phải tìm cách để nhận lại sản phẩm thế, khi thanh toán qua thẻ tín dụng, bạn nên tỉnh táo để có thể xác minh được người mua hàng là chủ sở hữu của thẻ tín dụng đó. Tuy nhiên, cũng không nên khiến thủ tục thanh toán trở nên quá rườm rà và khó khăn cho các khách hàng thực sự. Việc cân bằng giữa các biện pháp an ninh và sự thuận tiện cho khách hàng là điều vô cùng cần thiết, cũng là thách thức đối với các hệ thống thương mại điện tử hiện nay. Để hình thành một mạng lưới thương mại điện tử an toàn, hiệu quả cho cả người mua và người bán, tất cả mọi người cần có một nhận thức cao về vấn đề giải pháp nào dành cho các lỗ hổng bảo mật với các website TMĐT?Bạn có thể tự mình tiến hành hoặc tìm đến các giải pháp cho các website TMĐT của doanh nghiệp, sao cho đáp ứng được các tiêu chí cơ bản và hiệu quả sau đâyHãy tiến hành khảo sát để đánh giá hệ thống thương mại điện tử của doanh nghiệp. Việc khảo sát và đánh giá này phải hoàn toàn tự động và không gây ảnh hưởng gì đến hoạt động kinh doanh của công ty. Sau khi dò quét, đánh giá, phát hiện ra các điểm yếu, lỗ hổng bảo mật, phải đưa ra những biện pháp để duy trì hệ thống thương mại điện tử của doanh nghiệp được bảo mật, an toànThường xuyên sử dụng các tính năng nâng cao khách như dò quét mã độc Malware Scan, sử dụng nền tảng tường lửa ứng dụng cho web để chống tấn công từ bên ngoài hoặc sử dụng tính năng Monitoring để nhận cảnh báo mỗi khi website của bạn gặp sự khảo Có thể bạn quan tâm Nguyên nhân gây ra các lỗ hổng bảo mật websiteBizFly Cloud là nhà cung cấp dịch vụ điện toán đám mây với chi phí thấp, được vận hành bởi Cloud là một trong 4 doanh nghiệp nòng cốt trong "Chiến dịch thúc đẩy chuyển đổi số bằng công nghệ điện toán đám mây Việt Nam" của Bộ TT&TT; đáp ứng đầy đủ toàn bộ tiêu chí, chỉ tiêu kỹ thuật của nền tảng điện toán đám mây phục vụ Chính phủ điện tử/chính quyền điện giả quan tâm đến các giải pháp của BizFly Cloud có thể truy cập tại THỬ MIỄN PHÍ và NHẬN ƯU ĐÃI 3 THÁNG tại
Ngày đăng 23/08/2014, 0652 BẢO MẬT TRONG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Thiết lập một hệ thống thương mại điện tử sao cho dễ truy cập và an toàn là công việc nghiêm túc, nhưng ngày một đơn giản hơn. Bất kỳ CIO giám đốc phụ trách thông tin nào khi bắt tay triển khai thương mại điện tử TMĐT - electronic commerce thông qua Internet cũng đều phải đối mặt với một nghịch lý vừa phải đảm bảo cho hệ thống thực hiện được các giao dịch, lại vừa phải bảo vệ nó không bị phá hoại bởi chính những người truy cập. Mặc dù không thiếu công cụ làm được việc này - chẳng hạn bức tường lửa firewall - BTL để bảo vệ, hay các kênh truy cập riêng tunnel để đối tác đăng nhập vào một cách an toàn - nhưng thực hiện, cấu hình, quản lý chúng lại là nhiệm vụ nặng nhọc đối với nhiều đơn vị. Từ khi có những loại BTL đặc hiệu, hay tổ hợp bức tường lửa - tunnel được cấu thành từ nhiều công cụ khác nhau thường cũng từ nhiều nhà sản xuất khác nhau, công việc phần nào nhẹ nhàng hơn. Mặc dù hầu hết các sản phẩm hiện nay đều có giao diện người dùng đồ họa GUI cùng nhiều tính năng hữu dụng khác, song các thách thức vẫn còn rất lớn. BTL đóng vai trò rất quan trọng trong các dự án TMĐT - từ việc giám sát Web site cho đến bảo vệ các hệ thống xử lý lệnh. Trong khi đó, tunnel giúp các tổ chức có thể tạo ra mạng riêng ảo virtual private network - MRA để kết nối người mua, nhà cung cấp và đối tác. Tunnel dựa trên cơ sở các gói giao thức Internet được mã hóa, cung cấp mức độ bảo mật cao cho các giao tiếp kinh doanh bí mật. Mặc dù BTL và tunnel có vai trò ngày càng cao trong bảo mật TMĐT, nhiều chuyên gia vẫn còn chưa quen với những khái niệm này. Tự trau dồi kiến thức và thông qua kinh nghiệm hàng ngày sẽ giúp CIO và đội ngũ các nhà quản lý trở nên tự tin hơn khi làm việc với những công cụ bảo mật sống còn đó. "TMĐT là một thế giới bảo mật mới. Các CIO và nhà quản lý, thông qua học tập và đào tạo, phải theo kịp những tiến bộ trong vấn đề này. Nếu không, họ sẽ phải trả giá", quan chức cao cấp thuộc một công ty phần mềm TMĐT phát biểu. Nhiều người cũng đồng ý như vậy. "Tôi cho rằng đa số các CIO đều bị tụt hậu về kiến thức trong vấn đề này. Công nghệ thay đổi nhanh đến chóng mặt suốt một vài năm qua khiến ngay cả các chuyên gia cũng phải trầy trật mới theo kịp." Mặc dù có nhiều tranh luận xung quanh việc học hỏi công nghệ mới, đa số chuyên gia bảo mật cho rằng mục tiêu bảo mật chặt chẽ có thể đạt được chẳng mấy khó khăn. Sau đây là một số đề xuất của họ trong vấn đề bảo mật TMĐT. Vạch rõ mục tiêu bảo mật Nhiều CIO có vốn hiểu biết rất ít về bảo mật nói chung khi họ bắt đầu một dự án TMĐT. Một chuyên gia trong lĩnh vực này đã từng khuyên "trước tiên, bạn phải vạch rõ mục tiêu muốn đạt được. Bảo mật là bộ phận tích hợp của dự án, chứ không phải bạn muốn nghĩ đến nó lúc nào tùy ý". CIO và các nhà quản lý phải phân tích những yêu cầu đặt ra trong bảo mật ở từng bộ phận của dự án TMĐT, tuyệt đối tránh kiểu đánh giá toàn bộ hệ thống sau khi đã triển khai xong. Nếu đợi cho đến khi hệ thống được cài đặt xong, bạn chắc chắn sẽ hối tiếc về một số việc không kịp làm đối với bảo mật. Các chuyên gia cũng lưu ý, bảo mật TMĐT ở đây bao gồm cả hai vấn đề là công nghệ và vận hành. "Bạn có thể có một chiếc khóa rất an toàn ở trước cửa nhà, nhưng nó cũng sẽ không giúp được gì nếu bạn sử dụng nó không hợp lý. Cũng như vậy, ngay cả công nghệ tốt nhất trên thế giới cũng không thể bảo vệ cho hệ thống TMĐT của bạn nếu nó không được thực hiện và quản lý một cách đúng đắn", đó là lời một chuyên gia trong ngành. Họ khuyên bạn nên tìm sự trợ giúp từ bên ngoài công ty, một nhà tích hợp hệ thống bảo mật dày dạn kinh nghiệm chẳng hạn. "Đối với bảo mật, bạn phải quan tâm đến các giao thức, các thiết bị viễn thông và chuyển tải, Có rất nhiều thứ cần được lưu ý, và không thể hoàn toàn chỉ trông chờ vào CIO cùng đội ngũ của ông ta để thực hiện hết những việc này." Vấn đề bảo mật xoay quanh việc xem xét kỹ các mối quan hệ của một việc làm trước khi ra quyết định. Giám đốc một công ty chuyên cung cấp các công cụ đánh giá chất lượng bảo mật của mạng lưu ý rằng quản lý các dự án TMĐT thường cần đến các nhà hệ thống thông tin để cân bằng giữa những yêu cầu trong công việc của một tổ chức với đòi hỏi của nguyên tắc bảo mật. "Mở cửa cho công nghệ âm thanh và hình ảnh cũng có nghĩa là bạn nới rộng đường cho các tay hacker thâm nhập vào hệ thống. Điều quan trọng là bạn phải đảm bảo có đủ sự an toàn cần thiết trước khi mở ra một dịch vụ mới." BTL ngăn chặn kẻ xấu Trong kho chứa vũ khí bảo mật, BTL là một trong những công cụ quan trọng nhất. Nó kết hợp phần cứng và phần mềm, là hàng rào giữa tài nguyên Internet của công ty với thế giới bên ngoài. Công nghệ có hai hình thức cơ bản phần mềm cài đặt vào server Internet, hoặc một "ngăn" độc lập trước server Internet và bảo vệ cho mạng nội bộ trước thế giới bên ngoài. Theo các chuyên gia, một BTL chỉ gồm phần mềm cũng đủ đảm bảo an toàn cho dự án TMĐT cỡ nhỏ, kiểu một Web site hiện đại, còn loại "ngăn" thì có thể bảo toàn dữ liệu cho qui mô xí nghiệp. BTL tiêu biểu gồm hai thành phần chính cổng và van. Cổng cho phép dữ liệu lưu thông giữa hai mạng thông tin, còn van thì ngăn các gói dữ liệu ra vào không đúng cổng. Nói cách khác, bất kỳ gói dữ liệu nào không có địa chỉ nguồn hay địa chỉ đến thì đều bị khóa lại ở BTL. Van cũng có thể được thiết lập để khóa lại trước những gói dữ liệu đặc biệt nào đó, chẳng hạn dữ liệu của một tay hacker đang cố xâm nhập vào hệ thống. Cổng thường do máy tính đảm nhiệm, còn van thì có thể là một router thông minh đặt giữa cổng và mạng bên ngoài. Một BTL đơn lẻ không đủ đáp ứng cho những ứng dụng TMĐT quan trọng. "Bạn thực sự cần thiết lập một vùng có ranh giới rõ ràng với ít nhất là 2 BTL và/hoặc các router đóng vai trò tương tự," một chuyên gia khuyến cáo. Ông này cũng lưu ý là bằng cách nhân đôi khả năng bảo vệ của BTL, có thể thông qua sử dụng sản phẩm của hai nhà sản xuất khác nhau, sẽ tạo ra một khoảng trống an toàn và giảm đáng kể cơ hội cho hacker tìm ra cách truy cập vào hệ thống. Tunnel hỗ trợ người tốt Trong khi các MRA rất hữu dụng trong việc ngăn chặn các tay hacker cũng như những người sử dụng không được phép, giá trị thực của công nghệ lại nằm ở khả năng kết nối mọi người lại với nhau. Ngoài việc là công cụ bảo mật, tunnel còn giúp các nhân viên, bất kể ở xa hay gần, có phương tiện rẻ tiền để kết nối với nhau. Các chuyên gia cũng cho biết thêm là phần lớn chi phí thiết lập tunnel là tính được trước và công ty chỉ phải trả rất ít nếu không muốn nói là hoàn toàn không phải trả chi phí hoạt động hàng tháng. Tìm ra được tỷ lệ pha trộn thích hợp giữa các sản phẩm phần cứng và phần mềm để đảm bảo cho một dự án TMĐT quả là thách thức rất lớn đối với bất kỳ CIO nào. Cho đến nay, lựa chọn duy nhất vẫn là kết hợp các sản phẩm và dịch vụ bảo mật từ nhiều nhà cung cấp khác nhau. Lý do là chưa có nhà cung cấp nào đủ sức đưa ra một giải pháp hoàn chỉnh cho các nhu cầu bảo mật của TMĐT. Thế nhưng các chuyên gia vẫn tin là tình hình sẽ nhanh chóng thay đổi. "Nhiều nhà sản xuất đã bắt đầu thực hiện gói chung các BTL cộng tác lại với nhau. Các công ty như Cisco hay Bay Networks đang gói chung phần cứng và phần mềm nhằm cung cấp các mức độ khác nhau về bảo mật, tùy theo yêu cầu của khách hàng," một chuyên gia cho biết. Phối hợp cả hai công cụ Các công ty dự kiến tổ chức TMĐT nên lập kế hoạch để tạo một MRA nhằm tìm kiếm BTL có sẵn các khả năng tunnel. "Có rất nhiều sản phẩm cho bạn chọn lựa. Một giải pháp cao cấp có thể tương tự như SunScreen của Sun Microsystems. Đây là một hỗn hợp phần cứng lẫn phần mềm cho phép nhiều tunnel đến các vị trí khác nhau trên Internet và cung cấp một đường dẫn an toàn, vững chắc đến đối tác kinh doanh của bạn." Cách tiếp cận khác rẻ tiền hơn, theo ý kiến chuyên gia trên, là chọn giải pháp chỉ sử dụng phần mềm. Eagle của Raptor Systems Inc. là một ví dụ về giải pháp kiểu này. Đây là cách dễ dàng và nhanh chóng thiết lập một tunnel thông qua GUI để kết nối với đối tác sử dụng cùng công nghệ. Các giải pháp bảo mật TMĐT tất-cả-trong-một cũng bắt đầu xuất hiện trên thị trường. Cụ thể, New Oak Communications mới giới thiệu NOC 4000 Extranet Access Switch, hỗn hợp gồm BTL, tunnel, mã hóa, xác nhận authentication, băng thông, bộ dẫn đường và quản lý tập trung - tất cả nằm trong một hộp truy cập Internet đơn lẻ. "Kiểu tích hợp này có thể là khởi đầu cho loại sản phẩm mới sắp xuất hiện trên thị trường bảo mật TMĐT," một chuyên gia cho biết. Mặc dù BTL và tunnel là những công cụ rất an toàn cho TMĐT, nhưng các tổ chức cũng nên cảnh giác với những mối đe dọa tiềm tàng và phải tìm ra khi chúng ẩn náu đâu đó. Có những hạn chế đối với kiểu bảo vệ theo bên ngoài do BTL cung cấp. BTL sẽ không thể ngăn chặn được những truy cập trái phép ngay từ các nhân viên trong công ty. Vì vậy, khi mở MRA cho các đối tác kinh doanh, cũng có nghĩa là bạn đặt tổ chức của mình vào nguy cơ thất thoát thông tin cao hơn. Để đối phó với những mối đe dọa về bảo mật MRA, người ta khuyên các nhà quản lý nên thường xuyên thực hiện thủ tục bảo mật như buộc người dùng phải luôn thay đổi password và quyền truy cập thông tin, thiết lập một hệ thống theo dõi bằng cách dùng những phần mềm chuyên dụng đặt ở cuối tunnel và giám sát những người đang cố truy cập đến MRA và địa chỉ mà người đó hướng tới khi họ đã vượt qua được BTL. "Việc xác định số lần BTL bị đe dọa đang ngày càng trở nên quan trọng. Nhiều công ty đã bị thất bại chỉ vì không biết họ đã nhiều lần bị tấn công. Họ sống trong sự bình an giả tạo cho tới khi những điều tồi tệ nhất xảy ra," một chuyên gia phát biểu. Đừng bao giờ thôi nghĩ đến bảo mật Trong tương lai, những người ủng hộ MRA có thể sẽ tự bảo vệ được mình trước những yếu kém về bảo mật của phía đối tác bằng cách đánh giá chỉ số an toàn. Bạn cần biết là các nhà tư vấn hay sản xuất sản phẩm bảo mật đã bắt đầu nghĩ đến giao công việc cơ bản cho một hệ thống đánh giá. Hệ thống này đòi hỏi các tổ chức phải chứng tỏ là họ đã theo đúng những nguyên tắc cần thiết để bảo vệ cho hệ thống máy tính khỏi những nguy cơ xâm phạm từ bên trong cũng như bên ngoài. Hệ thống chưa thể ra đời trong vài năm tới đây nhưng một cấu trúc như vậy sẽ giúp các CIO đỡ lo lắng hơn và làm cho công nghệ MRA trở nên hấp dẫn hơn. Đồng thời, các CIO phải tiếp tục chú trọng tới bản chất luôn thay đổi của TMĐT. Thật là sai lầm nếu cứ tin là "đã làm một lần, sẽ còn mãi mãi". Điều này chỉ đúng trong môi trường tĩnh. Còn ở thế giới động như TMĐT, đánh giá lại và liên tục nâng cấp là một quá trình không có điểm dừng. . BẢO MẬT TRONG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Thiết lập một hệ thống thương mại điện tử sao cho dễ truy cập và an toàn là công việc nghiêm túc,. số chuyên gia bảo mật cho rằng mục tiêu bảo mật chặt chẽ có thể đạt được chẳng mấy khó khăn. Sau đây là một số đề xuất của họ trong vấn đề bảo mật TMĐT. Vạch rõ mục tiêu bảo mật Nhiều CIO. khai thương mại điện tử TMĐT - electronic commerce thông qua Internet cũng đều phải đối mặt với một nghịch lý vừa phải đảm bảo cho hệ thống thực hiện được các giao dịch, lại vừa phải bảo - Xem thêm -Xem thêm bảo mật thương mại điện tử, bảo mật thương mại điện tử,
bảo mật trong thương mại điện tử là gì