Để môn Giáo dục địa phương dễ học hơn, nhóm học sinh Trường THCS-THPT Liên Việt Kon Tum đã sáng tạo bộ sản phẩm số hóa quảng bá văn hóa Ba Na. Em Lê Công Danh và Nguyễn Trần Thục Quyên, học sinh lớp 9, Trường THCS-THPT Liên Việt Kon Tum cho biết, mục tiêu của sáng tạo
Tư duy sáng tạo là tư duy mới, tư duy khác biệt với các tư duy đã có trước đây, tư duy mang tính lối mòn. Sáng tạo được thể hiện ở rất nhiều các lĩnh vực, công việc. Ví dụ như sáng tạo trong nấu ăn, sáng tạo trong phương pháp học tập, sáng tạo ra máy móc mới,…
Hiện tại, giá thị trường của FUCVREIT vẫn đang lao dốc kể từ sau khi lập đỉnh ngày 18/11/2021 và vẫn chưa có dấu hiệu dừng lại. Tính từ đầu năm 2022 đến cuối phiên sáng 18/10, thị giá của FUCVREIT đã giảm hơn 32%, còn 7,700 đồng/cp.
Trong các hành vi dưới đây, hành vi nào thể hiện tính sáng tạo trong công việc? A. Vứt đồ đặc bừa bãi. B. Biết sắp xếp thời gian học tập, nghỉ ngơi, hoạt động thể dục thể thao hợp lý. C. Đang làm việc này, lại chạy ra làm việc khác. D. Chỉ làm theo những điều
Hướng dẫn giải bài Phép trừ các số trong phạm vi 100000 toán 3. Đây là vở bài tập nằm trong bộ sách "Chân trời sáng tạo" được biên soạn theo chương trình đổi mới của Bộ giáo dục. Hi vọng, với cách hướng dẫn cụ thể và giải chi tiết học sinh sẽ nắm bài học tốt hơn.
Câu hỏi: Hành vi nào thể hiện tính năng động, sáng tạo? A. Trong các môn học Ngữ văn, N thường đem bài tập Toán ra làm. B. Do khó khăn, anh An cho rằng làm bất cứ việc gì để tăng thu nhập. C. Trong học tập, bao giờ An cũng chỉ làm theo những lời thầy cô nói. D. Khi cô giáo
A. Thông báo tuyển sinh lớp đào tạo nghề Luật sư khóa 2 năm 2022. Hồ sơ xét tuyển gồm: Tải hồ sơ tại đây: 2022- Mau va HD lam HO SO NGHE LUAT SU, CONG CHUNG. 1. Đơn xét tuyển: 02 bản (file hồ sơ) 2. Sơ yếu lý lịch : 02 bản (có xác nhận của cơ quan công tác hay UBND) 3.
Hướng dẫn giải bài Em làm được những gì toán 3. Đây là vở bài tập nằm trong bộ sách "Chân trời sáng tạo" được biên soạn theo chương trình đổi mới của Bộ giáo dục. Hi vọng, với cách hướng dẫn cụ thể và giải chi tiết học sinh sẽ nắm bài học tốt hơn.
. MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, CHỦ ĐỘNG, SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH TRONG GIỜ HỌC KHOA HỌC LỚP 4 ĐẠT KẾT QUẢ CAOBạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây KB, 19 trang Có thể bạn quan tâmCó bao nhiêu ngày làm việc trong năm 2023 Ontario Canada?An Giang cách Sài Gòn bao nhiêu kmHọc bằng lái mô tô bao nhiêu tiền?CPU máy tính bao nhiêu là ổn?Lạm phát của Úc sẽ là bao nhiêu vào năm 2023? KINH NGHIỆMMỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, CHỦ ĐỘNG, SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH TRONG GIỜ HỌC KHOA HỌCLỚP 4 ĐẠT KẾT QUẢ CAOPHẦN MỞ ĐẦUI. Lý do chọn sáng kiến kinh nghiệmNgay từ khi mới biết nhận thức, thế giới xung quanh luôn là điều mà con người khát khao tìm hiểu. Ở tiểu học các kiến thức về tự nhiên, xã hội và con người; sự vận động và phát triển và mối quan hệ giữa chúng được trình bày một cách đơn giản, phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh trong môn khoa dạy môn khoa học không chỉ nhằm tích luỹ kiến thức đơn thuần mà còn nhằm dạy cho học sinh tập làm quen với cách tư duy chặt chẽ mang tính khoa học, hình thành cho học sinh những năng lực cần thiết để thích ứng với thực tế cuộc sống và tiếp tục học tập sau này. Chính vì vậy, khoa học là môn học quan trọng trong nhà cạnh đó, quá trình hội nhập của Việt Nam và các nước trong khu vực và trên thế giới đòi hỏi nền giáo dục nước nhà phải có những đổi mới trong mục tiêu và nội dung dạy học. Sự đổi mới này đòi hỏi phải có những đổi mới về phương pháp dạy học. Theo định hướng đó, phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tích tực, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp đặc điểm của từng lớp học, môn học.+ Môn Khoa học ở các lớp 4 được xây dựng trên cơ sở tiếp những kiến thức về tự nhiên của các môn tự nhiên và xã hội các lớp 1, 2, 3. Nội dung chương trình được cấu trúc đồng tâm, mở rộng và nâng cao theo 3 chủ đề ở lớp 5 còn có chủ đề môi trường và tài nguyên thiên nhiên+ Con người và sức khoẻ.+ Vật chất và năng lượng.+ Thực vật và động Quan điểm chỉ đạo là tư tưởng tích hợp Tích hợp các nội dung của khoa học tự nhiên vật lý, hoá học, sinh học và tích hợp các nội dung của khoa học tự nhiên với khoa học sức Nội dung được lựa chọn thiết thực, gần gũi và có ý nghĩa với học sinh; giúp các học sinh có thể vận dụng những kiến thức khoa học vào cuộc sống hàng Chú trọng hình thành và phát triển các kỹ năng trong học tập khoa học như quan sát, dự đoán, giải thích các sự vật, hiện tượng tự nhiên đơn giản và kỹ năng vận dụng kiến thức khoa học vào cuộc Tăng cường tổ chức hoạt động học tập nhằm tạo điều kiện cho học sinh phát huy tính tích cực, tự lực tìm tòi phát hiện ra kiến thức và thực hành những hành vi có lợi cho sức khoẻ cá nhân, gia đình và cộng những lý do nêu trên, việc phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh đang là một đòi hỏi cấp bách cần giải quyết. Vì vậy, tôi đã suy nghĩ, nghiên cứu và áp dụng kinh nghiệm Một số biện pháp nhằm phát huy tính tích 1cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong giờ học khoa học lớp 4 đạt kết quả sở Nghiên cứu1. Cơ sở lý luận Như chúng ta đã biết , học sinh tiểu học là lứa tuổi học tập theo hứng thú và chủ yếu là cảm tính. Đồng thời lứa tuổi này còn mang các đặc điểm tâm lý hồn nhiên,ngộ nghĩnh và hiếu động các em thích vui chơi, thích các trò chơi vui nhộn "Vừa chơi, vừa học" .Mặt khác đối với học sinh tiểu học việc ghi nhớ thì rất nhanh nhưng để nhớ một nội dung, một vấn đề nào đó thì lại rất khó cho nên các nhà khoa học đã nhận định rằng lứa tuổi học sinh tiểu học là lứa tuổi "Chóng nhớ, mau quên". Muốn học sinh nhớ được vấn đề nào đó thì ngoài việc thường xuyên phải củng cố, ôn tập về nội dung cần nhớ thì việc tạo cho các em cảm giác hứng thú và say mê với nội dung cần ghi nhớ , chắc chắn rằng các em sẽ dể tiếp thu, dễ nhớ và nhớ lâu hơn. Đồng thời lứa tuổi học sinh tiểu học là lứa tuổi mang đặc điểm nhận thức, tư duy trực quan và cụ thể. Các em không những nhận thức tốt các vấn đề mang tính cụ thể mà còn rất có hứng thú khi khai thác, tìm hiểu các vấn đề mang tính cụ thể, đồng thời các em cũng rất ưa thích các vấn đề trực quan mang tính bắt mắt mà các em có thể quan sát một cách dễ dàng. Các môn học như Khoa học, Lịch sử, Địa lý theo chương trình và sách giáo khoa thì được tích hợp nhiều kiến thức, nhiều nội dung trong một môn học, một bài học Ví dụ Môn Khoa học được tích hợp các kiến thức như Vật lý, Sinh học, Hoá học và một số kiến thức của môn sức khoẻ cũ củng được tích hợp vào môn học này,môn Lịch sử, Địa lý lại được tích hợp các kiến thức của khoa học xã hội như Văn hoc, Địa lý, Lịch sử. Do đó các nội dung kiến thức của các môn học này mang tính trừu tượng , yêu cầu học sinh phải ghi nhớ. Đồng thời đối với học sinh lớp 4 là lớp bản lề của hai giai đoạn Giai đoạn lớp 1,2,3 và giai đoạn lớp 4,5. Mặt khác , lớp 4 cũng là lớp học bắt đầu của việc tách môn học "Tự nhiên - Xã hội" thành các môn Khoa học, Lịch sử, Địa lý và cũng là lớp tạo nền tảng cho việc học tập và tìm hiểu kiến thức các môn học này ở lớp 5 và các lớp trên. Vì vậy việc "Tạo hứng thú và phát huy tính tích cực , chủ động , sáng tạo" cho học sinh khi học môn Khoa học ở lớp 4 là hết sức cần sở thực tiển Thực tế trong các nhà trường hiện nay theo thu thập thông tin thì việc dạy học các môn như Khoa học, Lịch sử, Địa lý ở các lớp 4,5 là chưa thực sự có hiệu quả. Như ở trường tôi công tác và cụ thể là lớp tôi chủ nhiệm điều đó là xác thực nhất. Qua kiểm tra theo dõi hàng ngày và qua khảo sát chất lượng cuối học kỳ I đã phần nào chứng minh điều đó. Những thực tế nói trên bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân nhưng có một nguyên nhân mà tôi cho là cơ bản nhất là chúng ta bao gồm tôi và các đồng nghiệp từ trước đến nay chưa tạo được hứng thú hay nói cách khác là chưa làm sao để cho các em học sinh thích thú khi học các tiết Khoa hoc, Lịch sử, Địa lý. Do đó các em 2cũng chưa phát huy được tính tích cực, chủ động , sáng tạo khi học các môn học này, vì vậy mà kết quả thu được là chưa quả khảo sát chất lượng đầu năm của hai lớp 4A và 4B như sauLớp Si số Xếp loại giỏi Xếp loại Khá Xếp loại TB Xếp loại yếuSố HS Tỉ lệ %Số HS Tỉ lệ %Số HS Tỉ lệ %Số HS Tỉ lệ %4A 33 2 6,06 8 24,24 20 60,61 3 9,094B 33 2 6,06 7 21,2 20 60,61 4 12,12 Từ những cơ sở đã nêu trên việc "Tạo hứng thú học tập và phát huy tính tích cực, chủ động , sáng tạo" của học sinh khi học các môn Khoa học, Lịch sử, Địa lý" là hết sức cần thiết và cấp bách. Đồng thời tôi thấy chưa có nhiều tác giả bàn về vấn đề này nên tôi quyết định chọn đề tài này để có thể góp sức mình cho sự nghiệp dạy học . Ở đây tôi chủ yếu đề cập đến việc rút kinh nghiệm để có thể giúp học sinh nhận thức tốt hơn với môn học mang tính trừu tượng hơn đó là môn Khoa học ở lớp 4.* Đánh giá thực trạng chất lượng học tập môn Khoa học của học sinh đầu năm họcQua một số tiết dạy những ngày đầu năm học, tôi nhận thấy một tồn tại trong việc học môn Khoa học của học sinh lớp 4B là tính tích cực học tập của các em còn rất yếu, thể hiện qua một số dấu hiệu sau+ Học sinh ít giơ tay phát biểu ý kiến của mình về các vấn đề giáo viên nêu ra chỉ có 10% số học sinh cả lớp tham gia phát biểu ý kiến xây dựng bài trong mỗi tiết học+ Nếu được hỏi, học sinh chủ yếu lệ thuộc vào SGK, ít tư duy 95%.+ Không thắc mắc hay đòi hỏi giáo viên phải giải thích cặn kẽ những vấn đề mà mình chưa hiểu rõ 95%.+ Không khí của lớp rất buồn tẻ hoặc ít sôi nổi khi học sinh không thực hiện được yêu cầu của giáo viên.+ Học sinh không có thói quen sưu tầm tư liệu phục vụ bài học; nếu có thì số lượng tranh rất ít, chất lượng sưu tầm chưa đúng yêu cầu bài học. Từ thực trạng trên, tôi thấy cần phải đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh trong giờ học môn Khoa học.*Tìm hiểu phương pháp dạy học tích cực để đề ra các biện pháp thực ta đều biết rằng quá trình dạy học gồm hoạt động có quan hệ hữu cơ Hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh. Cả hai hoạt động này đều được tiến hành nhằm thực hiện mục đích giáo động học tập của học sinh chính là hoạt động nhận thức. Hoạt động này chỉ có hiệu quả khi học sinh học tập một cách tích cực chủ động, tự giác với một động cơ nhận thức đúng đắn. Luôn luôn phát huy tích cực, chủ động trong hoạt động học tập của học sinh ở mỗi tiết học, đó chính là dạy học tích cực.* Những dấu hiệu cơ bản của dạy học nhằm phát huy tính tích cực của học sinh là3+ Coi trọng việc tổ chức các hoạt động của học sinh.+ Tạo điều kiện để học sinh tìm tòi, tiếp nhận tri thức.+ Tạo điều kiện để học sinh chủ động.+ Chú ý hình thành khả năng tự học của học PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU - Trong quá trình nghiên cứu tôi kết hợp sử dụng các phương pháp sau 1. Phương pháp điều tra Tôi đã điều tra bằng phiếu điều tra để thăm dò tình hình học tập các môn học Khoa học, Lịch sử, Địa cực học tập chuyên môn ,đổi mới phương pháp giảng dạy, Trong giảng dạy môn Khoa học áp dụng tốt Phương pháp bàn tay nặn bột3. Phương pháp trao đổi và lấy ý kiến đồng nghiệp và học sinh Tôi đã trao đổi và lấy ý kiến của đồng nghiệp, học sinh ở trường bạn, đồng nghiệp và học sinh trường mình, lớp mình để thu thập thêm về tình hình học tập các môn học nói trên của học sinh lớp Phương pháp thực nghiệm-Tổ chức dạy thực nghiệm ở lớp mình chủ nhiệm để khẳng định kinh nghiệm của mình là hợp lý và có hiệu quả.* Ngoài các phương pháp cơ bản trên tôi còn sử dụng một số biện pháp nghiên cúư bổ trợ như phương pháp quan sát, phương pháp đàm thoại IV, GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ- Vấn đề đặt ra ở đây là làm thế nào để "Tạo hứng thú và phát huy tính tích cực, chủ động , sáng tao" của học sinh khi học các môn Khoa học ở lớp 4. Để giải quyết vấn đề này có rất nhiều yếu tố nhưng tôi xin được đưa ra một biện pháp mà bản thân cho là cơ bản quan trọng và có hiệu quả đã đúc rút được qua quá trình dạy học của mình đó là việc "Lựa chọn và sử dung các phương pháp dạy học", " lựa chọn và sử dụng hệ thống câu hỏi " trong quá trình dạy học môn Khoa học ở lớp 4 .Sở dĩ tôi lựa chọn môn học nói trên là vì môn học này Khoa học ở lớp 1,2,3 được tích hợp trong môn "Tự nhiên và xã hội" lên lớp 4 được tách ra thành ba môn học khác nhau . Đồng thời môn học này có rất nhiều vấn đề mang tính trừu tượng mà trong quá trình học tập học sinh rất khó nhận thức được nếu các em không có hứng thú và không phát huy tính tự giác học tập của các em. A, Một số kinh nghiệm nhỏ khi dạy học môn Khoa học ở lớp 4 I. B iện pháp 1 Rèn học sinh tự làm các thí nghiệm đơn giản.* Với những bài Áp dụng phương pháp bàn tay nặn bột cơ bản thực hiện đúng quy trình 5 bước Bước 1 Tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đềTình huống xuất phát hay tình huống nêu vấn đề là một tình huống do giáo viên chủ động đưa ra như là một cách dẫn nhập vào bài học. Tình huống xuất phát phải ngắn gọn, gần gũi, rễ hiểu với học sinh. Tình huống xuất phát nhằm lồng ghép câu hỏi nêu vấn đề. Tình huống xuất phát càng rõ ràng thì việc dẫn nhập cho câu hỏi nêu vấn đề càng dễ. Tuy nhiên có những trường hợp không nhất thiết phải có 4tình huống xuất phát mới đề xuất được câu hỏi nêu vấn đề Tùy vào từng kiến thức và từng trường hợp cụ thể.- Câu hỏi nêu vấn đề là câu hỏi lớn của bài học, cần đảm bảo phù hợp với yêu cầu của trình độ, gây mâu thuẫn nhận thức và kích thích tính tò mò, thích tìm tòi nghiên cứu của học sinh, nhằm chuẩn bị tâm thế cho học sinh trước khi khám phá, lĩnh hội kiến thức. Giáo viên phải dùng câu hỏi mở, tuyệt đối không được dùng câu hỏi đóng trả lời có hoặc không đối với câu hỏi nêu vấn đề. Câu hỏi nêu vấn đề càng đảm bảo các yêu cầu trên thì ý đồ dạy học sủa giáo viên càng dễ thực hiện thành dụ về tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề Bài cấu tạo bên trong của hạt- Giáo viên đưa ra một vài hạt đậu loại hạt lớn cho học sinh rễ quan sát và giáo viên đặt câu hỏi Theo các em trong hạt đậu có gì? Bước 2 Bộc lộ quan điểm ban đầu của học sinh Làm bộc lộ quan điểm ban đầu hay biểu tượng ban đầu để từ đó hình thành các câu hỏi hay giả thuyết của học sinh là bước quan trọng, đặc trưng của phương pháp BTNB. Trong bước này giáo viên khuyến khích học sinh nêu những suy nghĩ, nhận thức ban đầu của mình về sự vật, hiện tượng mới kiến thức mới trước khi được học kiến thức đó. Khi yêu cầu học sinh trình bày quan niệm ban đầu, giáo viên có thể yêu cầu bằng nhiều hình thức biểu hiện của học sinh như có thể là bằng lời nói thông qua phát biểu cá nhân, bằng cách viết hay vẽ để biểu hiện suy nghĩ Học sinh, so sánh nhận xét sự giống và khác nhau giữa các nhóm. GV gạch chân điểm khác 3 Đề xuất câu hỏi hay giả thuyết và thiết kế phương án thực nghiệmGiáo viên gọi học sinh đề xuất câu hỏi hay giả thuyết và thiết kế phương án thực nghiệmTừ những khác biệt và phong phú về biểu tượng ban đầu của học sinh, giáo viên giúp học sinh đề xuất câu hỏi từ những khác biệt đó. Chú ý xoáy sâu vào những sự khác biệt liên quan đến kiến thức trọng tâm của bài học hay mô hình kiến thức . Ở từng bước này giáo viên cần khéo léo chọn lựa một số biểu tượng ban đầu khác biệt trong lớp để giúp học sinh so sánh, từ đó giúp học sinh đặt câu hỏi liên quan đến nội dung bài học. Đây là một bước khá khó khăn vì giáo viên cần phải chọn lựa các biểu tượng ban đầu tiểu biểu trong hàng chục biểu tượng của học sinh một cách nhanh chóng theo mục đích dạy học, đồng thời linh hoạt điều khiển thảo luận của học sinh nhằm giúp học sinh đề xuất câu hỏi từ những khác biệt đó theo ý đồ dạy học. Việc lựa chọn các biểu tượng ban đầu không tốt sẽ dẫn đến việc so sánh đề xuất câu hỏi của học sinh gặp khó khăn. Giáo viên nên gợi ý, định hướng cho học sinh thấy những điểm khác biệt giữa những ý kiến liên quan đến kiến thức chuẩn bị học. Giáo viên tùy tình hình thực tế ý kiến phát biểu, nhận xét của học sinh để quyết định phân nhóm biểu tượng ban đầu. 5 Sau khi chọn lọc các biểu tượng ban đầu của học sinh để ghi chép đối với mô tả bằng lời hoặc gắn hình vẽ lên bảng hoặc vẽ nhanh lên bảng đối với hình vẽ, giáo viên cần khéo léo gợi ý cho học sinh so sánh các điểm giống đồng thuận giữa các ý kiến đại diện hoặc khác nhau không nhất trí giữa các ý kiến các biểu tượng ban đầu. Từ những sự khác nhau cơ bản đó giáo viên giúp học sinh đề xuất các câu hỏi. Như vậy việc làm rõ các ý kiến khác nhau giữa các ý kiến ban đầu trước khi học kiến thức của học sinh là một mấu chốt quan trọng. Các biểu tượng ban đầu càng khác nhau thì học sinh càng bị kích thích ham muốn tìm tòi chân lí kiến thức.Đề xuất các phương án thực nghiệm nghiên cứu Từ các câu hỏi được đề xuất, giáo viên nêu câu hỏi cho học sinh đề nghị các em đề xuất thực nghiệm tìm tòi - nghiên cứu để tìm câu trả lời cho các câu hỏi đó. Các câu hỏi có thể là Theo các em làm thế nào để chúng ta tìm câu trả lời cho các câu hỏi nói trên? ; Bây giờ các em hãy suy nghĩ để tìm phương án giải quyết các câu hỏi mà lớp mình đặt ra! Tùy theo kiến thức, vấn đề đặt ra trong câu hỏi mà học sinh có thể đề xuất các phương án thực nghiệm tìm tòi - nghiên cứu. Giáo viên cần ghi chú lên bảng hoặc nhắc lại để các ý kiến sau không trùng lặp. Các phương án thực nghiệm mà học sinh đề xuất có thể rất phức tạp và không thể thực hiện được nhưng giáo viên cũng không nên nhận xét tiêu cực để tránh làm học sinh ngại phát biểu. Nếu ý kiến gây cười cho cả lớp, giáo viên cần điềm tĩnh giải thích cho cả lớp hiểu cần tôn trọng và lắng nghe ý kiến phát biểu của người Nếu ý kiến của học sinh nêu lên có ý đúng nhưng ngôn từ chưa chuẩn xác hoặc diễn đạt chưa rõ thì giáo viên nên gợi ý và từng bước giúp học sinh hoàn thiện diễn đạt. Giáo viên cũng có thể yêu cầu học sinh chỉnh sửa rõ ý. Đây là một vấn đề quan trọng trong việc rèn luyện ngôn ngữ cho học hợp học sinh đưa ra ngay thực nghiệm tìm tòi nghiên cứu đúng nhưng vẫn còn nhiều phương án khác khả thi thì giáo viên nên tiếp tục hỏi các học sinh khác để làm phong phú phương án tìm câu trả lời. Giáo viên có thể nhận xét trực tiếp yêu cầu các học sinh khác cho ý kiến về phương án mà học sinh trước đó nêu ra thì tốt hơn. Phương pháp Bàn tay nặn bột khuyến khích học sinh tự đánh giá ý kiến của nhau hơn là ý kiến của giáo viên nhận khi học sinh đề xuất phương án thực nghiệm tìm tòi nghiên cứu, giáo viên nêu nhận xét chung và quyết định tiến hành phương pháp thí nghiệm đã chuẩn bị sẵn. Trường hợp học sinh không đưa ra được phương án thí nghiệm tìm tòi nghiên cứu thích hợp, giáo viên có thể gợi ý hay đề xuất cụ thể phương án nếu gợi ý mà học sinh vẫn chưa nghĩ ý rằng phương án thực nghiệm tìm tòi nghiên cứu ở đây được hiểu là các phương án để tìm ra câu trả lời. Có nhiều phương pháp như quan sát, thực hành thí nghiệm, nghiên cứu tài liệu Giáo viên chốt lại phương án thực nghiệm Bước 4 Tiến hành thực nghiệm tìm tòi nghiên cứu - Các nhóm tìm tòi nghiên cứu ghi ra phiếu học HS làm việc theo nhóm đôi thảo luận câu hỏi - Đại diện các nhóm gắn phiếu học tập lên bảngTừ các phương án thực nghiệm tìm tòi nghiêm cứu mà học sinh nêu ra, giáo viên khéo léo nhận xét và lựa chọn dụng cụ thí nghiệm hay các thiết bị dạy học thích hợp để học sinh tiến hành nghiên cứu. Nếu phải làm thí nghiệm thì ưu tiên thực hiện thí nghiệm trực tiếp trên vật thật. Một số trường hợp không thể tiến hành thí nghiệm trên vật thật có thể làm trên mô hình, hoặc cho học sinh quan sát tranh vẽ. Đối với phương pháp quan sát, giáo viên cho học sinh quan sát vật thật trước, sau đó mới cho học sinh quan sát tranh vẽ khoa học hay mô hình để phóng to những đặc điểm không thể quan sát trên vật tiến hành thí nghiệm, giáo viên nêu rõ yêu cầu và mục đích thí nghiệm hoặc yêu cầu học sinh cho biết mục đích thí nghiệm chuẩn bị tiến hành. Sau đó giáo viên mới phát các dụng cụ và vật liệu thí nghiệm tương ứng với hoạt động. Nếu để sẵn các vật dụng thí nghiệm trên bàn học sinh sẽ nghịch các đồ vật mà không chú ý các đồ vật khác trong lớp; hoặc học sinh tự ý thực hiện thí nghiệm trước khi lệnh thực hiện của giáo viên được ban gia; hoặc học sinh sẽ dựa vào đó để đoán các thí nghiệm cần phải làm trường hợp này mặc dù học sinh có thể đề xuất thí nghiệm đúng nhưng ý đồ dạy học của giáo viên không đạt.Các thí nghiệm được tiến hành lần lượt tương ứng với từng mô đun kiến thức. Mỗi thí nghiệm được thực hiện xong, giáo viên nên dừng lại để học sinh rút ra kết luận Tìm thấy câu trả lời cho các vấn đề đặt ra tương ứng. Giáo viên lưu ý học sinh ghi chép vật liệu thí nghiệm, cách bố trí và thực hiện thí nghiệm mô tả bằng lời vẽ sơ đồ, ghi chú lại kết quả thực hiện thí nghiệm, kết luận sau thí nghiệm vào vở thực hành. Phần ghi chép này giáo viên để học sinh ghi chép tự do, không nên gò bó và có khuôn mẫu quy định, nhất là đối với những lớp mới làm quen với phương pháp BTNB. Đối với các thí nghiệm phức tạp và nếu có điều kiện, giáo viên nên thiết kế một mẫu sẵn để học sinh điền kết quả thí nghiệm, vật liệu thí nghiệm. Ví dụ như các thí nghiệm phải ghi số liệu theo thời gian, lặp lại thí nghiệm ở các điều kiện nhiệt độ khác nhau Khi học sinh làm thí nghiệm, giáo viên bao quát lớp, quan sát từng thấy nhóm hoặc học sinh nào làm sai theo yêu cầu thì giáo viên chỉ nhắc nhỏ trong nhóm đó hoặc nhắc riêng học sinh đó, không nên thông báo lớn tiếng chung cho cả lớp vì làm như vậy sẽ phân tán tư tưởng và ảnh hưởng đến công việc của các khối học sinh khác. Giáo viên chú ý yêu cầu học sinh thực hiện độc lập các thí nghiệm trong trường hợp các thí nghiệm được thực hiện theo từng cá nhân. Nếu thực hiện theo nhóm để tránh việc học sinh nhìn và làm theo cách của nhau, thụ động trong suy nghĩ và cũng tiện lợi cho các giáo viên phát hiện các nhóm hay các cá nhân xuất sắc trong thực hiện thí nghiệm nghiên cứu, đặt biệt là các thí nghiệm được thực hiện với các dụng cụ, vật liệu thí nghiệm giống nhau nhưng nếu bố trí thí nghiệm không hợp lý sẽ không thu được kết quả thí nghiệm như ý. Bước 5 Kết luận và hợp thức hóa kiến thức7Sau khi thực hiện thực nghiệm tìm tòi nghiên cứu, các câu trả lời dần dần được giải quyết, các giả thuyết được kiểm chứng, kiến thức được hình thành, tuy nhiên vẫn chưa có hệ thống hoặc chưa chuẩn xác một cách khoa học. Giáo viên có nhiệm vụ tóm tắt, kết luận và hệ thống lại để học sinh ghi vào vở coi như là kiến thức của bài học. Trước khi kết luận chung, giáo viên yêu cầu một vài ý kiến của học sinh cho kết luận sau khi thực nghiệm rút ra kiến thức của bài học. Giáo viên khắc sâu kiến thức cho học sinh bằng cách cho học sinh nhìn lại, đối chiếu lại với các ý kiến ban đầu quan niệm ban đầu trước khi học kiến thức. Như vậy từ những quan niệm ban đầu sai lệch, sau quá trình thực nghiệm tìm tòi - nghiên cứu, chính học sinh tự phát hiện ra mình sai hay đúng mà không phải do giáo viên nhận xét một cách áp đặt. Chính học sinh tự phát hiện những sai lệch trong nhận thức và tự sửa chữa, thay đổi một cách chủ động. Những thay đổi sẽ giúp học sinh ghi nhớ lâu hơn, khắc sâu kiến thức. Nếu có điều kiện, giáo viên có thể in sẵn tờ rời tóm tắt kiến thức của bài học để phát cho học sinh dán vào vở thực hành hoặc tập hợp thành một tập riêng để tránh mất thời gian ghi chép. Đối với các lớp 4, 5 ở tiểu học và trung học cơ sở thì giáo viên nên tập làm quan cho các em tự ghi chép, chỉ in tờ rời nếu kiến thức phức tạp và lớp 4, phần vô cơ được thể hiện qua chủ đề Vật chất và năng lượng. Nội dung này được thể hiện nhiều là qua các thí nghiệm, vì vậy khi giảng dạy, giáo viên cần đặc biệt quan tâm đến phương pháp bàn tay nặn bột để học sinh được làm thí nghiệm, từ đó chiếm lĩnh kiến thức. Phương pháp bàn tay năn bột chủ yếu sử dụng thí nghiệm, nghiên cứu, tìm tòi đã có tác dụng + Giúp học sinh đi sâu vào tìm hiểu bản chất các sự vật, hiện tượng, sự vật tự nhiên.+ Phương pháp bàn tay nặn bột có sử dụng phương pháp thí nghiệm, tìm tòi, nghiên cứu như nguồn dẫn học sinh đi tìm tri thức mới, vì thế các em sẽ hiểu sâu nhớ lâu.+Rèn luyện cho học sinh một số kĩ năng đặt thí nghiệm , lắp ráp dụng cụ thí nghiệm, quan sát diễn biến thí nghiệm, * Ví dụ bài 21 Ba thể của nước. Áp dụng phương pháp Bàn tay nặn bột vào hoạt động 1 và 2. Tìm hiểu hiện tượng nước từ thể lỏng chuyến sang thể khí và ngược lại; nước từ thể lỏng chuyển sang thể rắn và ngược lại + Bước 1 GV yêu cầu HS lấy ví dụ về nước ở thể lỏng. - HS trả lời nước mưa, nước suối, nước sông, nước ao - GV Vậy ngoài thể lỏng, nước còn tồn tại ở những thể nào? + Bước 2 GV yêu cầu HS đưa ra những dự đoán của mình về các thể còn lại của nước. - HS làm việc theo nhóm 4, nêu những dự đoán của cá nhân, nhóm trưởng tổng hợp kết quả vào bảng phụ. - Các nhóm treo dự đoán của nhóm mình lên - Lần lượt từng nhóm trình bày kết quả của nhóm mình -Các dự đoán đó là 1. Nước còn tồn tại ở thể hơi. 2. Nước còn tồn tại ở thể rắn. 3. Nước có thể bay hơi thành hơi nước. 4. Hơi nước đọng lại thành nước ở thể lỏng. 5. Hơi nước có thể đông lại thành thể rắn. 6. Nước ở thể rắn nóng chảy hành nước ở thể lỏng. - GV cho HS nhận xét phần giống nhau của các nhóm. GV gạch chân phần khác nhau. + Bước 3 GV yêu cầu HS đưa ra những câu hỏi thắc mắc từ những dự đoán của nhóm mình. - HS đưa ra câu hỏi thắc mắc. - GV ghi bảng những thắc mắc 1. Khi nò thì nuowcs ở thể lỏng chuyển thành thể rắn và ngược lại. 2. Khi nào thì nước ở thể lỏng chuyển thành thể khí và ngược lại. 3. Nước ở ba thể lỏng, rắn, khí có những điểm nào giống và khác nhau. - GV Để trả lời cho những thắc mắc này, các em hãy suy nghĩ để tìm ra phương án giải quyết. - HS Ta phải làm thí nghiệm và quan sát tranh. - Để làm thí nghiệm ta cần có những gì? Quan sát những gì? - GV chốt lại phương án thực nghiệm là quan sát và thực hành. + Bước 4 Các nhóm làm thí nghiệm, quan sát viết kết quả thí nghiệm và kết quả quan sát vào bảng phụ. Thí nghiệm / Quan sát hình Kết quả1. Cho nước nóng vào Úp đĩa lên sát hình Quan sát hình 5- Hơi nước bay lên- Hơi nước đọng lại thành những giọt nước - Nước trong khay đông đặc thành nước Nước đá tan ra thành nước ở thể nhóm treo kết quả của nhóm mình . + Bước 5 GV Qua phần làm thí nghiệm và kết luận của các bạn khi cho nước nóng vào trong cốc thì nước có bay hơi thành hơi nước không? => đĩa vào cốc nước nóng, hơi nước có đọng lại thành giọt nước ở thể lỏng không? => sát hình 4 thì khay nước ở thể lỏng sau khi cho vào ngăn làm đá nước ở thể lỏng đã chuyển sang thể nào? => thể để khay nước đá ở ngoài tủ lạnh, hiện tượng gì xảy ra? => nước đá tan ra thành nước ở thể Qua phần làm thí nghiệm em rút ra kết luận gì?9HS kết luận Nước có thể tồn tại ở thể lỏng, thể hơi hoặc thể rắn. Nước ở thể lỏng bay hơi thành nước ở thể khí, nước ở thể hơi ngưng tụ thành nước ở thể lỏng. Nước ở thể lỏng đông đặc thành nước ở rắn và nước ở thể rắn nóng chảy thành nước ở thể nhận xét và giới thiệu thêm Giống như nước ở thể lỏng thì nước ở thể khí cũng không có hình dạng nhất định. Nước ở thể rắn có hình dạng nhất định. Thể hơi của nước còn gọi là thể sinh đối chiếu kết quả với dự đoán ban chốt lại, HS nhắc ghi bảng kết luận Nước có thể tồn tại ở thể lỏng, thể khí hơi và thể rắn. Nước ở thể lỏng và thể khí hông có hình dạng nhất định. Nước ở thể rắn nước đá có hình dạng nhất HS đọc kết luận trên bảng.* Để dạy học theo phương pháp thí nghiệm thông thường cần tuân theo các bước sau- Xác định mục đích của thí nghiệm+ Các thí nghiệm trong chương trình khoa học 4 có thể phân thành 3 loại chính Loại nghiên cứu mối quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả. Loại nghiên cứu điều kiện cái này là điều kiện của cái kia hoặc hiện tượng kia. Loại nghiên cứu tính chất của một Vạch kế hoạch tiến hành thí nghiệm+ Liệt kê những dụng cụ thí nghiệm cần có và những điều kiện để tiến hành thí nghiệm.+ Vạch kế hoạch cụ thể làm gì trước, làm gì sau. Thực hiện thao tác gì ? Trên vật nào ? Quan sát dấu hiệu gì ? Ở đâu ? bằng giác quan nào hoặc phương tiện nào ?- Bố trí, lắp ráp và làm thí nghiệm theo các bước đã vạch ra. Khi làm thí nghiệm, giáo viên cần nắm vững và thực hiện các yêu cầu sau+ Học sinh phải chọn ra được một số yếu tố riêng có thể khống chế được để nghiên cứu hoặc phải tác động lên hiện tượng, sự vật cần nghiên cứu.+ Học sinh cần phải theo dõi, quan sát các hiện tượng xảy ra trong thí nghiệm.+ Học sinh cần biết thiết lập các mối quan hệ nguyên nhân - kết quả giải thích các kết quả thí nghiệm để rút ra kết luận.+ Các điều kiện và quá trình được kiểm soát là thiết yếu đối với một số thí nghiệm.+ Chú ý đảm bảo an toàn cho học sinh khi làm thí nghiệm. 10- Phân tích kết quả và kết luận Phần này, giáo viên cần hướng dẫn học sinh chú ý đến các dấu hiệu bản chất. dạy học sinh cách so sánh, suy luận khái quát để rút ra kết luận. * Ví dụ bài 52 Vật dẫn nhiệt và vật cách động 2 Chứng minh không khí là vật cách Chuẩn bị+ Hai chiếc cốc như nhau.+ Hai tờ giấy báo.+ Nước nóng.+ Nhiệt Cách tiến hànhGiáo viên cho học sinh đọc cách tiến hành trong SGK để học sinh nắm được cách làm thí nghiệm như sau+ Lấy một tờ giấy báo quấn thật chặt vào cốc thứ nhất.+ Lấy tờ báo còn lại làm nhăn và quấn lỏng vào cốc thứ hai để có nhiều chỗ chứa không khí giữa các lớp giấy.+ Đổ vào hai cốc nước một lượng nước nóng như nhau.+ Sau một thời gian đo nhiệt độ nước trong hai Nhận xét Nước trong cốc nào nóng hơn Giáo viên chỉ làm mẫu cách quấn giấy vào cốc sau đó yêu cầu học sinh tiến hành thí nghiệm theo nhóm Quan sát thí nghiệm Học sinh đo và ghi lại nhiệt độ của từng cốc sau mỗi lần 1 Nước trong cốc được quấn giấy báo nhăn và không buộc chặt có nhiệt độ cao hơn nước trong cốc được quấn giấy báo thường chặtLần 2 Đo cách lần một 5 phút, nước trong cốc được quấn giấy báo nhăn và chặt vẫn có nhiệt độ cao hơn nước trong cốc được quấn giấy báo thường Giải thích hiện tượngHọc sinh dựa vào tính chất của không khí để giải thích hiện tượng nước trong cốc quấn giấy báo nhăn quấn lỏng còn nóng hơn nước trong cốc quấn giấy báo thường và quấn chặt như sauNước trong cốc quấn giấy báo nhăn quấn lỏng còn nóng hơn vì giữa các lớp báo quấn lỏng có chứa rất nhiều không khí nên nhiệt độ của nước truyền qua cốc, lớp giấy báo và truyền ra ngoài môi trường ít hơn, chậm hơn nên nó còn nóng lâu đó học sinh tự rút ra kết luận không khí là vật cách nhiệt.* Ưu điểm của biên pháp 1 là- Học sinh có kỹ năng thao tác thành thạo trong việc thực hiện thí nghiệm dưới sự hướng dẫn của giáo Học sinh được trực quan mắt thấy, tai nghe hoặc cảm nhận qua các giác quan hiện tượng kết quả thí nghiệm, chứ không bị áp đặt, chấp nhận kết quả thí nghiệm một cách gián tiếp thông qua sách giáo khoa. II, Biện pháp 2 Tăng cường việc học tập theo học theo nhóm là hình thức giảng dạy học sinh vào môi trường học tập tích cực, trong đó học sinh được tổ chức thành các nhóm một cách thích hợp. Trong nhóm, học sinh được khuyến khích thảo luận và hướng dẫn làm việc hợp tác với động nhóm là một hoạt động học tập tích cực. Cụ thể là+ Đem lại cho học sinh cơ hội được sử dụng các kiến thức và kỹ năng mà các em được lĩnh hội và rèn luyện.+ Cho phép học sinh diễn đạt những ý tưởng, những khám phá của mình.+ Mở rộng suy nghĩ và thực hành các kỹ năng tư duy so sánh, phân tích, tổng hợp, đánh giá .Hoạt động nhóm giúp các em rèn luyện và phát triển kỹ năng làm việc, kỹ năng giao tiếp, tạo điều kiện cho học sinh học hỏi lẫn nhau, phát huy vai trò trách nhiệm, tính tích cực xã hội trên cơ sở làm việc hợp tác. Thông qua hoạt động nhóm, các em có thể cùng làm với nhau những công việc mà một mình không thể tự làm được trong một thời gian nhất định.+ Hình thức dạy học theo nhóm góp phần hình thành và phát triển các mối quan hệ qua lại trong học sinh, đem lại bầu không khí đoàn kết, giúp đỡ, tin tưởng lẫn nhau trong học tập.+ Tổ chức cho học sinh học tập theo nhóm giúp các em học sinh nhút nhát, khả năng diễn đạt kém có điều kiện rèn luyện, tập dươc, từ đó tự khẳng định mình trong sự hấp dẫn của hoạt động nhóm.+ Khi dạy học nhóm, giáo viên sẽ có dịp tận dụng các kinh nghiệm và sự sáng tạo của học sinh trong học tập.* Muốn hoạt động nhóm đạt kết quả tốt cần đảm bảo các yêu cầu sau+ Mỗi thành viên trong nhóm đều biết và hiểu công việc của nhóm, của bản thân.+ Mỗi thành viên đều tích cực suy nghĩ và tham gia vào các hoạt động của nhóm như phát biểu ý kiến, tranh luận .+ Mọi thành viên đều lắng nghe ý kiến của nhau, thoải mái khi phân tích và nói ra những điều mình suy nghĩ.+ Toàn nhóm làm việc hợp tác và đồng lòng với quyết định của cả nhóm.+ Mọi người biết rõ việc cần làm, giúp đỡ lẫn nhau, đều lo lắng tới công việc chung.+ Vai trò của nhóm trưởng, thư ký, báo cáo viên được thực hiện luân vì thế giáo viên cần có sự chuẩn bị kỹ càng từ việc tự làm thử thí nghiệm trước khi lên lớp đến cách tổ chức, giao việc để tránh gây lộn xộn hoặc học sinh không nắm bắt được yêu cầu kiến thức của tiết học. Muốn vậy, giáo viên cần chú ý+ Mệnh lệnh đưa ra rõ ràng, ngắn gọn chia nhóm nhỏ, lớn.+ Giao việc cụ thể cho từng nhóm.+ Phân công nhiệm vụ cho các nhóm thường có các thành phần12+ Trưởng nhóm Quản lý chỉ đạo, điều khiển nhóm hoạt động.+ Thư ký nhóm Ghi chép lại các kết quả công việc của nhóm sau khi đạt được sự đồng tình của nhóm.+ Báo cáo viên Trình bày trước lớp kết quả công việc của nhóm.+ Các thành viên khác trong nhóm có trách nhiệm tham gia tích cực vào các hoạt động của nhóm. Mỗi nhóm chỉ nên có khoảng từ 2 đến 6 em.* Ví dụ bài 20 Nước có những tính chất gì ?Hoạt động 1 Quan sát vật thậtMục tiêuPhát hiện mầu, mùi, vị của tiến hànhBước 1 Tổ chức, hướng dẫn+ Giáo viên yêu cầu các nhóm đem cốc đựng nước và cốc đựng sữa đã chuẩn bị ra quan sát và làm theo yêu cầu như đã ghi ở trang 42 sách giáo khoa.+ Giáo viên chỉ yêu cầu học sinh trao đổi trong nhóm ý 1 và 2 theo yêu cầu quan sát ở trang 42 2 Làm việc theo nhóm+ Nhóm trưởng điều khiển các bạn quan sát và lần lượt trả lời câu hỏi;Cốc nào đựng nước, cốc nào đựng sữa ? học sinh dễ dàng nhận ra cốc đựng nước và cốc đựng sữa trên vật thật.Làm thế nào để bạn biết điều đó ? đối với câu hỏi này, giáo viên cần đi tới các nhóm giúp đỡ để học sinh sử dụng các giác quan của mình phát hiện ra cốc nào đựng nước và cốc nào đựng sữa. cụ thể là Nhìn vào 2 cốc Cốc nước thì trong suốt và có thể nhìn thấy rõ cái thìa để trong cốc; cốc sữa có mầu trắng đục nên không nhìn rõ cái thìa để trong lần lượt từng cốc Cốc nước không có vị, cốc sữa có vị lần lượt từng cốc Cốc nước không có mùi, cốc sữa có mùi 3 Làm việc cả lớp+ Giáo viên gọi đại diện cả nhóm lên trình bày những gì học sinh đã phát hiện ra ở bước 2. Giáo viên ghi các ý kiến của học sinh lên bảng như sauCác giác quan cần sử dụng để quan sátCốc nước Cốc sữa1. Mắt nhìn Không có mầu, trong suốt, nhìn rõ chiếc thìaTrắng đục, không nhìn rõ chiếc thìa2. Lưỡi - nếm Không có vị Có vị ngọt của sữa3. Mũi - ngửi Không có mùi Có mùi của sữa+ Giáo viên gọi một số học sinh nói về một số tính chất của nước được phát hiện trong hoạt động luận Qua quan sát ta có thể nhận thấy nước trong suốt, không mầu, không mùi, không vị* Việc học tập theo nhóm đã đem lại một số kết quả học tập như sau13+ Học sinh tham gia tích cực hơn, tự tin hơn vào bản thân.+ Rèn luyện kỹ năng nói cho học sinh trước tập việc lên kế hoạch và giao việc cho các nhóm, để tổ chức một tiết học có hiệu quả, giáo viên cần chú ý một số điểm sau+ Sắp xếp bàn ghế thuận tiện cho việc học nhóm.+ Luôn tạo không khí thoải mái, vui vẻ trong gìờ học.+ Chuẩn bị tốt nội dung thảo luận cho từng Biện pháp 3 Sử dụng hiệu quả phương pháp quan sát - Đối với phương pháp quan sát Đây là một phương pháp có nhiều ưu điểm với lứa tuổi học sinh. Sử dụng phương pháp này trong dạy học khoa học sẽ tạo được không khí học tập trong lớp học rất thoải mái nhưng các em học sinh lại rất tập trung vào hoạt động tìm hiểu các vấn đề của bài học có trong sự vật được quan Bên cạnh đó sử dụng phương pháp này cần lưu ý một điều về đồ dùng sử dụng để quan sát theo tôi là tuỳ thuộc vào từng nội dung bài học và nội dung cần tìm hiểu, khám phá nhưng nếu có thể thì đồ dùng để quan sát tốt nhất là sử dụng vật thật vì vật thật có tác dụng kích thích trí tò mò của học sinh tiểu học. Nếu không có điều kiện sử dụng vật thật thì có thể sử dụng tranh, ảnh minh hoạ nhưng tranh, ảnh phải đảm bảo tính khoa học và phai mang tính thẩm mỹ. - Để có hiệu quả tốt chúng ta cần sử dụng phối kết hợp phương pháp quan sát với các phương pháp dạy học khác như Phương pháp thảo luận nhóm ,Phương phảp trò chơi học tập, Phương pháp thí nghiệm cùng với hệ thống câu hỏi theo hướng trắc nghiệm khách quan . * Ví dụ khi dạy bài Bảo vệ bầu không khí trong sạch Trước hết chúng ta treo các bức tranh ở sách giáo khoa SGK vẽ phóng to. Bước 1 Hướng dẫn học sinh quan sát và nêu câu hỏi gợi ý tìm hiểu nội dung các bức tranh . Câu hỏi Bức tranh vẽ gì ? Bước 2 Thảo luận nhóm Giáo viên chia lớp thành nhiều nhóm nhỏ. Phát cho học sinh mỗi nhóm một tập thẻ có ghi nội dung việc làm ở từng bức tranh vừa được quan sát . Các nhóm thảo luận để chọn ra những việc nên làm hay không nên làm và giải thích cho từng lựa chọn của nhóm mình . Giáo viên đi đến từng nhóm để gợi ý cách giải thích Tại sao nên làm và không nên làm ? Bước 3 Trình bày kết quả làm việc của nhóm mình Các nhóm cử đại diện nhóm trình bày kết quả và giải thích lựa chọn của nhóm mình . Nhóm khác nhận xét , bổ sung . Giáo viên chốt kiến thức Từ việc lựa chọn và giải thích lựa chọn của học sinh ở trên . Giáo viên nêu gợi ý để học sinh nêu các việc làm để bảo vệ bầu không khí trong sạch . Học sinh trả lời , Học sinh khác nhận xét và nhắc lại nội dung các việc làm để bảo vệ bầu không khí trong sạch ở sách giáo Biện pháp 4 Tổ chức Trò chơi học tập14Chơi là một nhu cầu mang tính sinh học của các em. Có thể nói vui chơi cần thiết và vô cùng quan trọng như ăn, ngủ, học tập trong đời sống của các chức trò chơi học tập giúp thay đổi hình thức hoạt động trên lớp, làm không khí lớp học thoải mái, dễ chịu, học sinh tiếp thu kiến thức thoải mái, tích cực hơn * Khi tổ chức trò chơi người giáo viên cần phải nắm và thực hiện được các nguyên tắc sau + Trò chơi phải thể hiện mục đích rõ ràng về kiến thức của bài học, đảm bảo ôn tập, củng cố, rèn kĩ năng hoặc ứng dụng một đơn vị kiến thức cụ thể. + Trò chơi phải đơn giản, dễ làm sao cho bản thân giáo viên và học sinh đều có thể tự làm được. + Hệ thống trò chơi trong các giờ học phải thu hút được nhiều đối tượng học sinh tham chỉ thiết kế trò chơi cho học sinh khá giỏi.+ Có luật chơi.+ Đảm bảo an toàn cho học sinh khi chơi.+ Nên tổ chức vào phần củng cố bài học, khi thời gian của tiết học còn khoảng 5 đến 6 phút. * Cách tổ chức trò chơi + Giới thiệu và nêu cách chơi Có thể tiến hành nhiều cách khác nhau nhưng yêu cầu giáo viên nói ngắn gọn rõ ràng, dễ hiểu, sao cho tất cả học sinh nắm được cách chơi. + Cho học sinh chơi thử nếu cần. + Tiến hành chơi giáo viên điều khiển trò chơi phải nắm vững tiến trình và theo dõi chặt chẽ. + Đánh giá kết quả chơi Sau mỗi lần chơi giáo viên nhận xét, đánh giá đúng thực chất của cuộc chơi. Nêu ưu, nhược điểm của từng cá nhân, tập thể. Xếp giải nhất, giải nhì công bằng rõ ràng để kích thích những lần chơi tiếp theo. Kết thúc Giáo viên hỏi xem học sinh đã học được những gì qua trò chơi hoặc giáo viên tổng hợp lại những gì cần học được qua trò chơi này. Lưu ý Đối với những trò chơi đơn giản, không nhất thiết phải thực hiện đầy đủ các bước trên.* Ví dụ dạy bài 41 Âm thanhTrò chơi Đoán tên âm thanhMục đích Giúp học sinh khắc sâu kiến thức về những âm thanh trong cuộc sống phát ra từ đâu và luyện tập các cách khác nhau để làm cho vật phát ra âm bị Các dụng cụ phát ra âm thanh như trống, kèn, sỏi theo tiến hành+ Giáo viên phổ biến luật chơiChia lớp thành hai nhóm. Mỗi nhóm có thể dùng bất cứ vật gì để tạo ra âm thanh. Nhóm kia sẽ đoán xem, âm thanh đó do vật nào gây ra và đổi ngược lại. Mỗi lần đoán đúng tên vật được cộng thêm 5 điểm, đoán sai bị trừ đi 1 điểm.+ Tổng kết điểm.+ Tuyên dương nhóm thắng dụ dạy bài 64 Trao đổi chất ở động vật Trò chơi Đố bạn con gì ?Mục đích Giúp học sinh luyện tập kể tên một số loài động vật và thức ăn của chúng. Củng cố cách phân loài động vật theo nhóm thức ăn của bị Tranh ảnh động vật đủ các nhóm thức ăn của tiến hành- Giáo viên phổ biến luật chơi+ Giáo viên dán vào lưng học sinh một con vật mà không cho học sinh đó biết, sau đó yêu cầu học sinh quay lưng lại cho các bạn xem con vật của mình.+ Học sinh chơi có nhiệm vụ đoán xem con vật mình đang mang là con gì.+ Học sinh chơi được hỏi các bạn dưới lớp 5 câu về đặc điểm của con vật.+ Học sinh dưới lớp chỉ trả lời đúng hoặc sai.+ Tìm được tên con vật sẽ nhận được một món Cho học sinh chơi dụ Học sinh đeo con vật là con hổ, hỏi+ Con vật này có 4 chân phải không ? - Đúng.+ Con vật này có sừng phải không ? - Sai.+ Con vật này ăn thịt các loại động vật khác có phải không ? - Đúng.+ Đấy là con hổ - Đúng. cả lớp vỗ tay khen bạn.- Cho học sinh chơi theo Cho học sinh xung phong chơi trước Nhận xét, khen ngợi các em đã nhớ những đặc điểm của con vật, thức ăn của Biện pháp 5 Khuyến khích học sinh sưu tầm tư liệu phục vụ bài giáo khoa hiện nay đóng vai trò quan trọng trong phần cung cấp kiến thức cho học sinh. Tuy nhiên, ở một số bài học của phần khoa học, tư liệu sưu tầm lại đóng vai trò quan trọng và cần thiết trong việc giúp học sinh chủ động, phát hiện, chiếm lĩnh kiến thức bài học, chứ không phải tiếp nhận kiến thức một cách thụ động, chấp nhận. Cách làm này rất phù hợp với quá trình nhận thức của học sinh, gây hứng thú học tập đồng thời bước đầu hình thành phương pháp nghiên cứu khoa học, chuẩn bị cho các em tiếp tục học lên các lớp trên. * Ví dụ bài 54 Nhiệt cần cho sự sinh sưu tầm ảnh về các loài động vật. học sinh làm việc theo nhóm với yêu cầu sau- Phân loại tranh ảnh động vật sưu tầm theo sự phân bố của chúng trên trái đất như sau+ Động vật sống ở sứ lạnh, băng tuyết quanh năm.+ Động vật sống ở vùng ôn đới.+ Động vật sống ở vùng nhiệt đới.+ Động vật sống ở vùng sa Nhận xét các vùng khí hậu có nhiều động vật sinh sống hoặc ít động vật sinh sống.Trên cơ sở tranh ảnh sưu tầm, học sinh tự rút ra kết luận về vai trò của nhiệt đối với đời sống động việc sưu tầm tư liệu mang lại hiệu quả cao, tôi áp dụng một số các làm như sau + Hướng dẫn học sinh phân loại tranh theo yêu cầu của bài học.+ Sử dụng tư liệu sưu tầm của học sinh các khoá trước.+ Đánh giá, động viên việc sưu tầm tư liệu của học sinh.+ Giáo viên thường xuyên bổ sung tư liệu, kiến thức ngoài sách giáo khoa trong các tiết Biện pháp 6 Sử dụng phương tiện dạy học hiện đại màn hình, máy chiếu, băng hình Trang thiết bị dạy học đặc biệt là những thiết bị dạy học là những phương tiện tốt nhất để học sinh đón nhận kiến thức mới một cách nhanh chóng. Mục đích của việc sử dụng trang thiết bị dạy học không chỉ để minh hoạ cho nội dung bai học mà còn là phương tiện để tổ chức các hoạt động học tập dưới nhiều hình thức. Nhờ đó, học sinh có điều kiện để tìm tòi, khám phá ra kiến thức mới.* Ví dụ bài 39 Không khí bị ô nhiễmPhần 2 Nguyên nhân gây nhiễm bẩn bầu không sinh xem một đoạn băng hình Hà Nội khổ vì bụi và khói. Trước khi xem băng hình, giáo viên yêu cầu học sinh quan sát băng TLCH sau+ Nhận xét bầu không khí ở Hà Nội.+ Nêu nguyên nhân gây nhiễm bẩn bầu không khí.+ Liên hệ bầu không khí ở địa phương xung quanh trường học, nơi em ở Trong quá trình xem băng, giáo viên có thể dừng băng ở một số hình ảnh và yêu cầu học sinh cho ý kiến của mình về bầu không khí thông các hình ảnh vậy, cách sử dụng trang thiết bị dạy học hiện đại, giáo viên đã đưa học sinh vào các tình huống có vấn đề rồi giúp học sinh tích cực tư duy để giải quyết vấn đề đặt ra, cung cấp những thông tin cập nhật và từ đó có ý thức trách nhiệm bảo vệ bầu không khí.* Ưu điểm của biện pháp 5 là + Học sinh tiếp nhận kiến thức một cách chủ động.+ Phát triển tư duy tích cực và có khả năng vận dụng tri thức vào tình huống mới.+ Hấp dẫn, lôi cuốn sự chú ý của học Kết quả đạt đượcVới việc áp dụng thường xuyên các biện pháp trên, việc học môn khoa học của học sinh lớp 4B đã đạt được một số tiến bộ, tiết học đạt hiệu quả hơn thể hiện qua một số điểm sau+ Học sinh hăng hái giơ tay phát biểu ý kiến trong các tiết học tỷ lệ này là 80% so với 10% đầu năm học.17+ Nếu được hỏi, học sinh đã biết vận dụng các kiến thức cũ, kết hợp với những hiểu biết thực tế để trả lời, chứ không hoàn toàn lệ thuộc vào sách giáo khoa.+ Học sinh hào hứng, tự tin, mạnh dạn trong các tiết học.+ Đối với các bài cần sưu tầm tư liệu, học sinh đã biết sưu tầm tư liệu đúng yêu cầu bài quả khảo sát chất lượng cuối năm của hai lớp 4A và 4B như sauLớp 4A thì dạy học theo phương pháp truyền thống; Lớp 4B tôi phụ trách tôi đã vận dụng phương pháp bàn tay nặn bột, phát huy tốt tích tích cực chủ động sáng tạo của học sinh nên chất lượng khác hẳn với lớp Sĩ sốHSXếp loại giỏi Xếp loại Khá Xếp loại TB Xếp loại yếuSố HS Tỉ lệ %Số HS Tỉ lệ %Số HS Tỉ lệ %Số HS Tỉ lệ %4A 33 7 21,2 9 27,27 17 51,524B 33 18 54,55 9 27,27 6 18,2Qua kết quả nêu trên chứng tỏ ràng việc thường xuyên đổi mới phương pháp dạy học rất quan trọng, nhất là vận dụng phương pháp bàn tay nặn bột, phát huy tốt tích tích cực chủ động sáng tạo của học sinh, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục trong giai đoạn PHẦN KẾT LUẬN, BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ Ý KIẾN ĐỀ luậnSự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước trên con đường tiến vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước bằng cạnh tranh trí tuệ đang đòi hỏi phải có sự đổ mới về nội dung và phương pháp trong dạy học nói chung và trong bộ môn khoa học nói kinh nghiệm thực tiễn dạy học và kết quả nghiên cứu, tôi rút ra một số kết luận sauNắm bắt kịp thời, vận dụng linh hoạt, sáng tạo các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo. Tạo ra các tình huống có vấn đề trong quá trình dạy học để phát huy tích cực cho học thường xuyên thực hiện tiết học có hiệu quả, nên đơn giản hoá việc tổ chức học tập, triệt để sử dụng tư liệu, đồ dùng sẵn có. 2. Bài học kinh nghiệm Qua việc nghiên cứu một số một số biện pháp nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong giờ học khoa học lớp 4 đạt kết quả tôi rút ra một số kinh nghiệm sau 1. Giáo viên nắm chắc mục tiêu bài 2. Giáo viên soạn bài chu đáo, áp dụng tốt phương pháp bàn tay nặn bột vào giảng dạy. 3. Phối hợp hài hòa các phương pháp, song cơ bản giáo viên là người tổ chức, hướng dẫn để học sinh áp dụng tốt phương pháp thí nghiệm, học sinh tự tìm tòi, tự nghiên cứu để rồi chiếm lĩnh kiến thức. 4. Giáo viên GV cần có sự chuẩn bị chu đáo về đồ dùng học tập để phục vụ trò chơi, đồ dùng cần đảm bảo tính khoa học, thẩm mĩ, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của trẻ em; giáo viên GV cần có sự chuẩn bị về không gian, thời gian, thời điểm diễn ra trò chơi, không lạm dụng trò chơi biến cả tiết học thành tiết chơi hoặc tổ chức quá nhiều trò chơi trong tiết học ; giáo viên GV cần chuẩn bị về hình thức tổ chức, có luật chơi rõ ràng, đơn giản, dễ nhớ, dễ thực hiện, không đòi hỏi thời gian dài cho việc huấn luyện. Giáo viên GV cần xác định về số lượng học sinh HS tham gia sao cho đủ cả các đối tượng đều được hoạt động. không khí học tập, thoải mái, tự nhiên. 6. Tổ chức hình thức thảo luận nhóm phải thực sự, tránh hình thức, phải giành thời gian nhất định cho hoạt động kiến đề xuấtĐể các biện pháp trên được thực hiện có hiệu quả, tôi xin đề xuất một số kiến nghị sau+ Tăng cường các chuyên đề thực tập môn khoa học.+ Bổ sung các thiết bị, đồ dùng dạy học hiện đại máy chiếu đa năng projector . - Tổ chức hội thảo những sáng kiến kinh nghiệm hay có hiệu quả cho giáo viên GV học hỏi rút kinh
Tự giác và sáng tạo trong học tập là gì? Làm thế nào để rèn luyện tính tự giác và sáng tạo? I. Khái niệm Tự giác là chủ động làm việc không đợi ai nhắc nhở, không phải đo áp lực từ bên ngoài. Sáng tạo là trong quá trình lao động luôn luôn suy nghĩ, cải tiến để tìm tòi cái mới, tìm ra cách giải quyết tối ưu nhằm không ngừng nâng cao chất lượng, hiệu quả lao động. II. Biểu hiện Chủ động làm việc, không cần ai nhắc nhở. Luôn luôn suy nghĩ, cải tiến để tìm tòi cái mới. Tìm mọi cách giải quyết tối ưu để nâng cao chất lượng hiệu quả công việc III. Ý nghĩa Giúp tiếp thu kiến thức, kĩ năng ngày càng thuần thục, Phẩm chất và năng lực của mỗi cá nhân sẽ được hoàn thiện, Phát triển không ngừng chất lượng, hiệu quả học tập, lao động sẽ ngày càng được nâng cao. IV. Rèn luyện Học sinh phải rèn luyện ý thức tự giác và lao động sáng tạo trong học tập. Tự giác học tập, làm bài tập. Thực hiện tốt nội quy của lớp, của trường. Có kế hoạch rèn luyện của bản thân. Có suy nghĩ cải tiến phương pháp học tập, lao động. Nghiêm khắc sửa chữa sai lầm. V. Những biểu hiện và tác hại của lối sống thụ động, thiếu sáng tạo * Biểu hiện Có lối sống tự do, cá nhân, cẩu thả. Ngại khó, ngại khổ. Lười suy nghĩ, gặp chăng hay chớ. Thiếu trách nhiệm với bản thân xã hội, gia đình. Thiếu tự giác trong học tập sẽ đem lại kết quả học tập kém Sống ỷ lại vào bố mẹ,. * Tác hại Bản thân sẽ trỏ thành con người lười biếng, cẩu thả, tuỳ tiện. Mọi người sẽ không tôn trọng, uy tín cá nhân giảm sút. Học tập thiếu sáng tạo sẽ ảnh hưởng đến kết quả học tập, chất lượng học tập sẽ không được nâng cao. Bản thân không thể hoàn thiện và phát triển được phẩm chất và năng lực cá nhân của mình. Luôn ỷ lại vào sách giải, bạn bè hoặc thầy cô. Tư duy chậm phát triển. → Tự giác và sáng tạo không phải do bẩm sinh mà có. Nó hình thành qua quá quá trình rèn luyện của mỗi con người. Nghị luận về tầm quan trọng của ý thức tự giác trong học tập đối với mỗi học sinh
lý thuyết trắc nghiệm hỏi đáp bài tập sgk Câu hỏi tìm những biểu hiện năng động sáng tạo trong học tập lao động sinh hoạt hàng ngày và tìm những biểu hiện thiếu năng động sáng tạo trong học tập lao động sinh hoạt hàng ngày 진혜미 2 tháng 11 2017 lúc 1450 Nêu những biểu hiện có tính năng động sáng tạo và không năng động sáng tạo trong học tập, lao động, sinh hoạt hàng ngày Xem chi tiết Hải Vũ 24 tháng 10 2021 lúc 1559 Kể những việc làm thể hiện tính năng động, sáng tạo của em trong học tập, lao động, cuộc sống? hs phải nêu được tính năng động riêng và tính sáng tạo riêng trong mỗi lĩnh vực, hs cần nêu nhiều việc làm cụ thể Xem chi tiết tự nhận xét bản thân mình cs những ưu điểm và tồn tại gì khi thực hiện năng động, sáng tạo trg học tập và lao động Xem chi tiết mọi người phải làm ggij để tăng tính lao động sáng tạo nêu những việc làm về tính năng đôjng sáng tạo về lao động học tập Xem chi tiết Nêu một số biểu hiện của người có tính năng động, sáng tạo ? Là học sinh em rèn luyện tính năng động sáng tạo như thế nào? Xem chi tiết Theo em, trong học tập có cần năng động và sáng tạo hay không? Vì sao? Kể những việc làm của em thể hiện năng động, sáng tạo trong học tập Xem chi tiết Nêu những biểu hiện của người năng động sáng tạo? Xem chi tiết Có ý kiến cho rằng “ năng động, sáng tạo là phẩm chất riêng của những thiên tài”. Em có tán thành ý kiến đó không? Vì sao? Học sinh cần làm gì để có tính năng động, sang tạo? Xem chi tiết 1Kể tên những tấm gương năng động, sáng tạo mà em biết. Em học tập những gì từ những tấm gương đó? 2Tại sao nói năng động sáng tạo là phẩm chất cần thiết của người lao động? nêu dẫn chứng Xem chi tiết
Thế nào là năng động và sáng tạo?Tại sao cần phải rèn luyện tính năng động và sáng tạo?Rèn luyện tính năng động và sáng tạo trong học tập như thế nào?Phê phánBài học nhận thức và hành động Nghị luận về tính năng động sáng tạo trong học tập của học sinh. Mở bài Muốn thành công trong công việc và trong cuộc sống, con người cần phải rèn luyện nhiều phẩm chất tốt đẹp. Một trong những phẩm chất cần có đó là tính năng động và sáng tạo. Chính tính năng động và sáng tạo giúp con người luôn hứng thú với công việc, không ngừng khát vọng đạt đến thanh công. Thân bài Thế nào là năng động và sáng tạo? “Năng động” là năng nổ, tích cực, chủ động, tự giác trong công việc. Tính năng động có thể tự có hoặc được hình thành và rèn luyện trong quá trình lao động. “Sáng tạo” nghĩa là làm điều gì đó khác biệt, hoặc mới mẻ so với bản thân mình và với những người khác. Sáng tạo còn là say mê, tìm tòi để tạo ra những giá trị mới về vật chất, tinh thần hoặc tìm ra cái mới, cách giải quyết mới mà không bị gò bó phụ thuộc vào cái đã có. Năng động là cơ sở để sáng tạo. Sáng tạo là động lực để năng động. Người có tính năng động là người dám nghĩ, dám làm, mạnh mẽ và quyết đoán trong việc làm. Họ luôn có góc nhìn khác, suy nghĩ khác, mới mẻ trong công việc. Họ không chờ đợi may mắn mà tự mình tìm kiếm lấy nó thông qua công việc. Họ luôn là người khởi đầu tiên phong trong mọi công việc. Người có tính sáng tạo là người năng động làm việc và tìm tòi cái mới. Họ không dễ dàng chấp nhận những gì hiện có, sẵn có. Họ cũng không bắt chước hoặc lặp lại những cách thức cũ mà say mê tìm kiếm những cái mới mẻ, đem lại hữu ích cho cuộc đời. Người có tính năng động và sáng tạo luôn say mê, tìm tòi và phát hiện cái mới, cái chưa từng có. Họ say mê học tập, nghiên cứu và linh hoạt xử lí các tình huống. Người năng động sáng tạo thường tìm ra cách làm mới, sản phẩm mới, hiệu quả cao, độc đáo, mới lạ. Sáng tạo là quá trình dài hơi của suy ngẫm. Kết quả có được mới lạ khác với suy ngẫm khác ở toàn phần. Kết quả của sáng tạo có nhiều sáng kiến mới mẻ và độc đáo. Bản chất của sáng tạo thể hiện ở chỗ là sản phẩm của sáng tạo thường không lặp lại cái dã có và có ích cho người sản xuất ra nó. Tại sao cần phải rèn luyện tính năng động và sáng tạo? Năng động, sáng tạo là phẩm chất cần thiết của người lao động trong xã hội hiện đại. Nó giúp con người có thể vượt qua những ràng buộc của hoàn cảnh. Năng động và sáng tạo làm rút ngắn thời gian để đạt được mục đích đã đề ra một cách nhanh chóng, tốt đẹp. Năng động và sáng tạo giúp cho con người thay đổi được lề lối cũ để hướng tới một mục đích tốt hơn. Sáng tạo nhỏ có thể làm thay đổi một cá nhân hay một tập thể. Sản phẩm của sự sáng tạo luôn có ích cho người làm ra nó và có ích cho mọi người. Sáng tạo lớn có thể thay đổi toàn tập thể lớn. Sáng tạo vĩ đại làm thay đổi mọi mặt, mọi phương diện của đời sống xã hội. Ví như, một giáo viên năng động và sáng tạo trong cách hướng dẫn và truyền đạt tri thức sẽ giúp học sinh hiểu bài sâu sắc, hiệu quả và chắc chắn. Đây là sáng tạo nhỏ, có ảnh hưởng ở phạm vi một tập thể. Nhà bác học Edison sáng tạo ra bóng đèn điện chiếu sáng. Cái bóng đèn kì diệu ấy đã làm thay đổi toàn bộ cuộc sống của loài người. Đây là sáng tạo lớn, có ảnh hưởng toàn cầu. Năng động và sáng tạo là một năng lực vô cùng quan trọng trong công việc và trong chính đời sống của mỗi người chúng ta. Đó là khả năng tìm thấy những điều mới mẻ và làm ra cái mới tiện ích hơn. Nó sẽ giúp mỗi người phát triển thêm những hiểu biết của mình. Nó làm phong phú thêm những ý tưởng mới. Nó làm tư duy nhạy bén và sâu sắc hơn trong việc tìm kiếm ý tưởng và giải quyết vấn đề khó khăn mà chúng ta gặp phải trong cuộc sống hang ngày. Chính tư duy năng động và sáng tạo mang lại niềm tin và động lực sống, tinh thần cống hiến của con người. Người sáng tạo luôn nhận được về mình những phần thưởng xứng đáng. Trước hết là làm thỏa mãn khát khao sáng tạo của họ. Sau đó, sản phẩm mới sẽ mang lại cho họ vinh dự và lợi ích vật chất to lớn. Vì thế, hãy luôn hăng say trong công việc. Hãy luôn vận động bằng tất cả từ trí tuệ cho đến thân thể. Tính năng động và sáng tạo luôn tạo động lực để con người làm việc. Nó giúp cho con người không bị lười biếng. Năng động và sáng tạo luôn đặt con người trong trạng thái vận động, luôn trong trạng thái sẵn sàng. Nhà bác học New-ton làm việc liên tục trong phòng thí nghiệm. Có khi đến hơn hai tháng ông không bước chân ra khỏi căn phòng ấy. Khi viết bộ Tấn trò đời bất hủ, nhà văn Ban-dac đã thức làm việc hai mươi giờ mỗi ngày. Họ đã không ngừng sáng tạo trong công việc, quên đi bản thân mình vì sự tiến bộ của nhân loại Không có động lực nào giúp ta say mê làm việc bằng tình yêu đối với công việc. Chính tình yêu công việc, tình yêu cuộc sống giúp ta làm việc không mệt mỏi. Người sáng tạo không bao giờ đi theo những suy nghĩ lối mòn. Người sáng tạo đều bị lôi cuốn bởi những trải nghiệm mới của riêng mình. Năng động sáng tạo còn phụ thuộc vào sức khỏe của mỗi người. Người càng trẻ càng cần phải có nó để tốt cho chính mình và cũng tốt cho nhiều người khác. Khả năng sáng tạo chỉ xuất hiện trong những môi trường nhiều kiến thức. Tức là biết kết hợp những gì mình học và tích lũy được vào làm một sản phẩm sáng tạo. Nhờ năng động sáng tạo mà con người làm nên những kì tích vẻ vang. Kết quả sáng tạo mang lại niềm vinh dự cho bản thân, gia đình, đất nước. Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi là điển hình của tinh thần sáng tạo kì tài. Trong lần đi sứ Trung Quốc, bằng tài úng đói của mình, Mạc Đĩnh Chi đã khiến vua nhà Nguyên vô cùng cảm động và khâm phục tài năng và đức độ của ông. Cảm kích tấm lòng rộng mở của ông, vu Nguyên đã phong tăng ông làm Lưỡng quốc Trạng nguyên, một danh hiệu cao quý xưa nay chưa từng có. Rèn luyện tính năng động và sáng tạo trong học tập như thế nào? Rèn luyện tính năng động và sáng tạo trước hết phải có ý thức tự giác học tập. Bởi mọi thành công của con người đều xuất phát từ tri thức như Le-nin đã từng nói “Tri thức là sức mạnh. Ai có tri thức người đó có sức mạnh”. Siêng năng, cần cù, chăm chỉ là yếu tố tạo nên tính năng động và sáng tạo. Bởi bàn tay sẽ làm giàu khối óc. Chỉ có lao động mới chứng thực được khả năng và đức tính của con người. Chỉ có lao động mới làm lộ phát khả năng sáng tạo của con người. Hãy luôn tự giác làm mọi việc, không cần đợi người khác sai bảo hay nhắc nhở. Miễn ta thấy điều đó là thiết thực, là hữu ích thì làm. Đừng so sánh thiệt hơn, thua thắng. Đừng ỷ lại hay đua đòi với người khác. Hãy hướng đến giá trị đích thực của công việc chứ không phải thể hiện giả tạo để người khác biết đến mình. Biết vượt qua khó khăn, thử thách để đạt đến thành công trong công việc. Không có thành quả nào đến với ta một cách dễ dàng. Thành công có được là kết tinh của trí tuệ và sức lao động miệt mài. Càng khó khăn ta càng say mê, càng quyết tâm chiến thắng. Tìm ra cách tốt nhất, khoa học nhất để đạt được mục đích. Đó là suy nghĩ sáng suốt trong hành động. Bởi không phải cần cù, nhẫn nại là sẽ thành công. Hãy tìm cách giải quyết tốt nhất, hợp lí nhất cho mỗi công việc để tiết kiệm sức lao động và tránh những tổn thất. Năng động là hăng hái, sôi nổi. Sáng tạo là làm ra cái mới, cái chưa từng có. Đây là hai hoạt động mang tính liên tục, có thể nghỉ nhưng không ngưng trệ, dừng lại bởi trở ngại nào đó. Học sinh và giới trẻ ngày nay, trong xã hội hiện đại thì càng cần phải rèn luyện năng động, sáng tạo. Bởi đó là những điều kiện tốt để con người có thể tạo dựng nên một tương lai tốt đẹp. Nó giúp ta vượt qua mọi khó khăn và nó sẽ là hành trang bất cứ nơi đâu. Mỗi người trong chúng ta hãy có cách tư duy cho riêng mình. Hãy tăng cường thêm dũng khí để tìm ra những hướng đi cho riêng mình. Mỗi người phải sống cuộc đời của mình. Đồng thời dùng thời gian của mình để tạo ra nhiều giá trị cho cuộc sống. Và khi đã tạo ra giá trị thì lợi ích sẽ đến với mỗi chúng ta. Sáng tạo cũng là cho cuộc sống của mỗi người tốt hơn. Phê phán Trong cuộc sống, vẫn còn có nhiều học sinh không năng động và sáng tạo trong học tập. Họ lười biếng, ỷ lại, lơ là trong học tập, không có ý chí vươn lên. Những học sinh như thế thật đáng chê trách. Bài học nhận thức và hành động Cuộc sống luôn cần phải năng động và sáng tạo. Không chỉ để cho bản thân mình mà còn cống hiến cho cộng đồng, cho đất nước. Mỗi người đều sống năng động và sáng tao để tạo ra nhiều giá trị và những điều kì diệu cho cuộc sống này thêm tốt đẹp hơn. Kết bài Con người sinh ra vốn ai cũng có khả năng tư duy, và sáng tạo. Tuy nhiên, khả năng sáng tạo của con người phần lớn bị giới hạn bởi phương pháp giáo dục và những quy ước của xã hội. Muốn sáng tạo mỗi người phải dũng cảm bỏ cách nghĩ, cách làm, cách nói, và hành động mà số đông chấp nhận bạn. Chỉ cần có ước mơ đủ lớn, ý chí sẽ đưa bạn đến thành công. Bài tham khảo 1 Suy nghĩ về vai trò và ý nghĩa của tính năng động và sáng tạo đối với con người Mở bài Cuộc sống sẽ không có điều gì mới mẻ cho đến khi bạn dám làm thay đổi tất cả bằng sự năng động và sáng tạo của mình. Thế giới này được xây dựng từ những gì đơn giản nhất, mọi kì tích cũng được tạo ra từ những suy nghĩ và hành động được cho là điên rồ và ngu xuẩn đó thôi. Biết năng động và sáng tạo nghĩa là bạn đã sống được nhiều hơn sự sống mà tạo hóa đã ban tặng cho mỗi con người. Muốn thành công, nhất định bạn phải biết sống năng động và sáng tạo Thân bài Năng động là tích cực, chủ động, dám nghĩ và dám làm. Sáng tạo là say mê tìm tòi để tạo ra những giá trị mới. Người năng động và sáng tạo là người luôn say mê tìm tòi, phát hiện và xử lý tình huống linh hoạt nhằm đạt hiệu quả cao. Có thể thấy hiện nay những bạn trẻ rất năng động và sáng tạo. Họ năng động trong tìm kiếm công việc, trong cách làm việc. Họ luôn tìm việc để làm chứ không đợi người khác giao việc. Họ sáng tạo trong cách thực hiện nhiệm vụ, đưa ra ý tưởng. Không gò bó mình trong một văn phòng chật chội, họ luôn để ý tưởng bay cao bay xa. Khi được giao nhiệm vụ, họ sáng tạo những cách nhanh nhất và hiệu quả nhất. Đó là những người mà xa hội hiện nay cần và chúng ta có thể dễ dàng thấy họ ở những vị trí như trưởng phòng, quản lí, giám đốc sáng tạo, giám đốc maketing,… Nhất là ở các công ty nước ngoài. Để có thể trở thành một người năng động sáng tạo, ta cần có sự rèn luyện. Đừng để bản thân mình bị giới hạn trong một vòng an toàn nào đó. Hay mạnh dạn bước ra ngoài vòng an toàn của mình. Hay đi tìm kiếm cho mình những cơ hội thay vì ngồi một chỗ chờ sung rụng. Hãy tìm một cách giải quyết vấn đề khác thay vì chỉ rập khuôn một cách làm. Chúng ta tốt hơn những gì chúng ta nghĩ nên hay mạnh dạn để cho trí tưởng tượng của chúng ta bay cao và bay xa. Trở thành một người năng động và sáng tạo là một bước quan trọng trong việc khẳng định khả năng của mình với mọi người. Sự sáng tạo đòi hỏi phải có can đảm để buông tay khỏi những điều chắc chắn. Nếu chỉ bám lấy những gì bạn đang có, bạn sẽ không thể nào sáng tạo ra cái gì mới mẻ. Bởi vì, những gì đang có xung quanh bạn nó đã phát huy hết giá trị của nó. và để làm cho nó có giá trị hơn, có giá trị khác biệt đòi hỏi bạn phải thay đổi. Thật đơn giản, sáng tạo chỉ là suy nghĩ một cách hiệu quả hơn mà thôi. Để sống một cuộc đời sáng tạo, chúng ta phải để mất nỗi sợ hãi sẽ làm sai. Tuy nhiên, hiện nay vẫn có nhưng bạn trẻ cực kì thụ động. Họ chấp nhận một cuộc sống bình lặng như mặt nước mùa thu. Họ đi học, rồi lên đại học, sau đó kiếm một công việc văn phòng ổn định và cứ thế sống tiếp những ngày còn lại. Cuộc sống tù túng trong những khó khăn khó giải quyết. Hãy cùng đặt một dấu chấm hỏi rằng khi về già họ sẽ có gì để nhớ lại, có gì để kể cho con cháu mình nghe? Làm việc rập khuôn và luôn chờ đợi được giao nhiệm vụ là điều khiến cho các công ty lớn ngán ngẩm khi phải tuyển nhân sự. Đây là một vấn đề lớn của cả một thế hệ. Điều này phụ thuộc rất nhiều vào chương trình giáo dục của Việt Nam. Chúng ta thường dạy học sinh phải học thuộc, phải làm bài theo mẫu và chấp nhận những con điểm an toàn. Làm sao để chúng ta thoát khỏi điều này thì lúc đó Việt Nam sẽ hoàn toàn tự tin và vươn ra thế giới. Tài sản lớn nhất trên đời mà bạn có thẻ sở hữu chính là một thái độ sống tích cực. Không có sáng tạo, không thể có niềm vui thật sự. Không có sự sáng tạo nào lại gắn liền với sợ hãi, với đau khổ, với lương tâm cắn rứt và với nỗi xấu hổ ngượng ngùng. Hãy dũng cảm làm điều gì đó mà bạn chưa từng làm nếu nó có thể mang đến mọt lợi ích nào đó. Kết bài Cuộc sống sẽ trở nên dễ dàng hơn nếu chúng ta không ngừng lao động và sáng tạo trong lao động. Không có giá trị nào tự nhiên mà có, tất cả đều được tạo ra dựa trên sức lao động của con người. Thế nên, đừng ngồi một chỗ với những ước mơ mà hãy bắt tay làm việc với tất cả tình yêu và sự quý trọng đối với cuộc sống này. Suy nghĩ về câu nói “Một người đã đánh mất niềm tin vào bản thân thì chắc chắn sẽ còn đánh mất thêm nhiều thứ quý giá khác nữa” Sách Dám thành công
Làm thế nào để sáng tạo trong học tập Danh mục Kỹ năng tư duy ... Làm thế nào để sáng tạo trong học tập? Giáo sư Lee YuanTseh, người ài Loan đoạt giải Nobel, đã khuyên sinh viên học sinh có sáu bước sáng tạo trong học hành như sau 1. ... để có thể cân nhắc cái lợi, cái hại của từng vấn đề. 4. iều tra cặn kẽ một chủ đề, vì đó là cách tốt nhất để học một đề tài. Tiến trình nghiên cứu có thể bắt đầu từ những năm học trung học. ... câu trả lời "đã được chấp nhận". Tự học là chính, học ở thầy là phụ. 2. ặt những câu hỏi "tốt" để khám phá những chân trời khoa học và gây bí cho thầy. Tự mình tìm ra câu... 2 1,002 3 Tài liệu Phát huy tính sáng tạo trong học tập ppt Danh mục Cao đẳng - Đại học ... chung của các môn học xã hội. Việc kiểm tra bài bằng cách ấy vô hình chung đã tạo ra một cái lồng mà trong đó các em không được sáng tạo bởi không cần phải sáng tạo. Với cách học ấy, chỉ cần không ... một con người hiện đại của thế kỉ XXI. Để tự có kiến thức của mình, điều quan trọng nhất là sự sáng tạo. Việc học trong nhà trường cũng không phải là ngoại lệ. Tôi quan niệm học trong nhà trường ... để học sinh tiếp thu kiến thức nhưng không phải là thứ mà buộc mỗi học sinh phải thuộc làu như học sinh có sáng tạo được không với kiểu học "y như sách" ấy? Với cách học... 2 886 4 Báo cáo khoa học Áp dụng tư duy biện chứng trong dạy toán học giúp học sinh chủ động và sáng tạo trong học tập doc Danh mục Báo cáo khoa học ... thugn Igi trong gidi todn, Idm gidm bdt so lugng dn vd ddnh gid quan he giua cde yeu to khd sdt vdi tinh chdt eua hinh ve, dd Id phuong phdp ehu yeu dugc su dyng trong cdc ... qud trinh ddo tgo Idm trgng tdm. Trong phuong thue ddo tgo truyin thdng, vai trd eua ngudi dgy duge coi trgng Idy nqudi dgy Idm trung tdm. Ngugc Igi, trong phuonp thuc ddo tgo theo tin ... tuong ty. O tren Id Tap chi Giao due so 241 kt i • 7/20101 mdt so dgng todn thudng gdp trong chuong trinh Hinh hgc 10. Duo vdo phuong phdp tu duy ndy, HS cd the ty ra them duge bdi... 3 614 3 Xem xét lại tính sáng tạo trong ngành kế toán phải sáng tạo và chuyên nghiệp Danh mục Quản trị kinh doanh ... thuật có thể làm cho điểm mạnh về kỹ thuật hiện có của doanh nghiệp trở nên lạc hậu. Cáccông ty mà thất bại trong việc tham gia hoặc đáp lại các cải tiến về sản phẩm màsản phẩm này làm thay ... tranh nào trong thị trường đã có. Trướcđây, các liên kết được xem xét từ một quan điểm riêng lẻ dựa trên phương pháp củangười nghiên cứu, hiện nay các học giả đang tập trung vào việc phát triển ... nào đó đã có trong thị trường. Trước đây,các liên minh được xem xét từ một quan điểm riêng lẻ dựa trên phương pháp của ngườinghiên cứu, hiện nay các học giả đang tập trung vào việc phát triển... 43 409 0 Hãy kể lại một câu chuyện thể hiện tinh thần tự trọng mà em đã chứng kiến hoặc tham gia - văn mẫu Danh mục Văn Tự Sự ... chồng vở tập làm văn đã chấm xong đưa vào trường để trả cho học sinh, vừa đến cổng trường thì chồng vở bị rơi vãi lung tung. Đám học sinh đang chơi đùa rất đông nhưng chẳng ai nói gì, làm gì. ... các bạn lại ghép Thịnh vào cái tội “ kẻ nịnh bợ “ !Thì ra Thịnh đã làm những việc mà dưới con mắt của vài bạn “ đầu têu “ trong lớp gọi là nịnh bợCô giáo bị ốm, thương cô con còn nhỏ, người ... ơi, những việc ấy mà là “ nịnh bơ “ ư? Sao lại có cái nhìn lạ lùng như vậy. Riêng em, em nghĩ mình sẽ cố gắng làm theo gương của Thịnh, người được gọi là kẻ nịnh bợ. Theo em Thịnh là học sinh... 2 12,447 8 Làm thể nào để sáng tạo bất đẳng thức lượng giác Danh mục Toán học ... sắc, có thể khơi gợi trong những học sinh giỏi toán phát triển và tổng quát bài toán. Lê Ngọc Anh HS chuyên toán khóa 2005 – 2008 Trường THPT chuyên Lý Tự Trọng, Cần Thơ Sáng tạo bất ... Trọng – Cần Thơ Bất ñẳng thức lượng giác Chương 5 Bất ñẳng thức như thế nào là hay ? Làm sao có thể sáng tạo bất ñẳng thức ? The Inequalities Trigonometry 100 iều khó khăn nhất khi chúng ... phải cao hơn, cách làm phải khó hơn, thế mới là sáng tạo !!! Lê Phước Duy HS chuyên toán khóa 2005 – 2008 Trường THPT chuyên Lý Tự Trọng, Cần Thơ Bất ñẳng thức có tính tổng quát, khó,... 2 404 1 Khai thác một bài toán nhằm phát huy tính sáng tạo trong toán học Danh mục Toán học ... tái hiện, củng cố và khắc sâu hơn các kiến thức cơ bản đà học, các vấn đề đa ra không quá khóvới mục đích là học sinh có thể tự giải quyết đợc, từ đó tạo sự tự tin cho các em trong học tập và ... ở SGK trong chừng mực có thể, hợp lí nhằm rèn luyện cho học sinh biết nhìn nhận bài toán dới nhiềugóc độ khác nhau, hình thành năng lực t duy tổng hợp và sáng tạo toán học từ đó tạo cho học sinh ... đây. Từ đó giúp học sinh thấy đợc sự đa dạng và lí thú của toán học, tạo cho các em cósự hứng thú trong học tập và thêm yêu thích bộ môn hơn. - Với mức độ yêu cầu nh trên ta có thể còn nhiều... 9 1,114 6 Phân tích Vai trò của tính sáng tạo trong quảng cáo Danh mục Quản trị kinh doanh ... sáng tạo trong quảng Khái niệm a. Tính sáng tạo b. Tính sáng tạo trong quảng cáo- Phân biệt quảng cáo sáng tạo và tính sáng tạo trong quảng cáo - Quy trình sáng tạo - Chiến lược sáng ... nhau. Chúng ta có thể sáng tạo trong việc đưa ra thông điệp, viết lời quảng cáo, sáng tạo trong việc thể hiện hình ảnh, sáng tạo trong việc chọn kênh truyền thông, sáng tạo trong cách lập kế hoạch ... không có tính sáng tạo. b Tính sáng tạo trong quảng cáo• Sự khác biệt giữa quảng cáo sáng tạo và sáng tạo trong quảng cáoCần hiểu cho đúng rằng “Quảng Cáo Sáng Tạo khác với Sáng Tạo trong... 27 3,139 31 SKKN HS chu dong sang tao trong hoc hoa 9 Danh mục Hóa học ... thành công. Trong dạy học Hoá học, việc giáo viên làm thí nghiệm biểu diễn hay học sinh làm thí nghiệm để chứng minh là việc làm thờng xuyên không thể thiếu đợc. Bỡi Hoá học là khoa học thực nghiệm. ... học và đối tợng học sinh, nhằm nâng cao tính tích cực, tự giác, chủ động của học sinh trong học tập. 6. Tổ chức các buổi ngoại khóa, thí nghiệm vui hóa học. Để tạo hứng thú học tập môn Hóa học ... với học với bộ môn Hóa học, giáo viên phải sáng tạo trong những phơng pháp giảng dạy để học sinh tích cực học tập. Vì vậy, tổ chức đa dạng các hoạt động học tập trong một tiết học... 12 567 0
việc làm thể hiện tính sáng tạo trong học tập