» Lời câu đầu: Bài thơ vào đời cô dạy ngày xưa » Lời câu đầu: Hè về rồi Quý Báu - Lời thơ: Lm. Nguyễn Công Đoan, SJ
1.Tác phẩm bằng chữ Hán. Những tác phẩm bằng chữ Hán của Đại thi hào Nguyễn Du rất nhiều, nhưng mãi đến năm 1959, mới được 3 nhà nho là: Bùi Kỷ, Phan Võ và Nguyễn Khắc Hanh sưu tầm, phiên dịch, chú thích và giới thiệu tập: thơ chữ Hán Nguyễn Du (Nhà xuất bản Văn
Nguyễn Công Trứ (1788 – 1858) là một nhà thơ kì dị cuối thế kỷ 19 tại Việt Nam. Không có những ngôn từ mĩ miều và thanh thoát, thơ Nguyễn Công Trứ thể hiện trực tiếp các tư tưởng và thái độ với cuộc đời, với thời cuộc.
Phân tích tác phẩm Nhàn – Mẫu 6. Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 – 1585) là người có học vấn uyên thâm. Tuy nhiên khi nhắc đến ông là làm mọi người phải nghĩ đến việc, lúc ông còn làm quan ông đã từng dâng sớ vạch tội và xin chém đầu mười tám lộng thần nhưng đã không
1- Cỏ non xanh tận chân ttách / Cành lê trắng điểm một vài ba cành hoa. 2- Sống làm cho vk khắp tín đồ ta / Hại cụ thác xuống có tác dụng ma ko ck. 3- Người đâu gặp gỡ làm đưa ra / Trăm năm biết tất cả dulặng gì hay không. 4- Ngổn ngang trăm mối bên lòng / Nên câu tuyệt
Bạn đang xem: Câu thơ về nguyễn du Nhà thơ Huy Cận, quê Hà Tĩnh, đồng hương của Nguyễn Du. Ông nhiều năm làm cỗ trưởng, sản phẩm trưởng bộ Văn hóa, lại là bạn thâm trầm, uyên bác, quý trọng di sản văn hóa dân tộc, bắt buộc để tâm không ít đến Nguyễn Du.
Câu hỏi cũng khôn mà câu trả lời cũng thật là khéo lắm; Chiêu Bảy đành phải lảng sang chuyện khác không dám hỏi về chuyện ấy nữa Nguyễn Du lúc còn là học trò ở với thân sinh là Xuân quận công Nguyễn Nghiễm ở Hà nội, theo học với một ông đồ họ Lê ở Gia Lâm, bên
Nhân kỷ niệm 250 năm năm sinh Nguyễn Du, người viết xin được góp đến hội thảo đề tài nhỏ: Nguyễn Du- Những niềm tri âm, qua một số bài thơ của Nguyễn Du và hậu thế viết về ông. Câu thơ còn đọng nỗi đau nhân tình…
. 11/9/11 Vịnh cụ Tiên Điền Kính tặng Nguyễn Du và Truyện Kiều Cảo thơm lần giở trước đèn Là nhiều vàng đá, phải tìm trăng hoa Trăm năm trong cõi người ta Một thiên tuyệt bút, gọi là để sau Khen tài nhả ngọc phun châu Mười lăm năm ấy, biết bao nhiêu tình. Mấy lời kỳ cựu đinh ninh Rằng tài nên trọng mà tình nên thương Khen rằng giá đáng Thịnh Đường Thì trao giải nhất, chi nhường cho ai Gẫm âu người ấy, báu này Nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào. Nặng vì chút nghĩa xưa sau Mà cho thiên hạ trông vào cũng hay Thương vui bởi tại lòng này Tan sương đầu ngõ, vén mây cuối trời Lòng thơ lai láng bồi hồi Tưởng người nên lại thấy người về đây... Viết trong một đêm cuối năm 1965, kỷ niệm 200 năm ngày sinh Nguyễn Du đăng trên số báo Tết Nguyên đán năm Bính Ngọ Sáng 30 tết, Thi sĩ Nguyễn Bính từ trần 11/9/11 Lục bát Tiên Điền Yến Thanh Làng tôi củ lạc thắt ngang Quả dưa buộc dọc cho chàng đi thi Ông Nghè, ông Cử vinh quy Cũng như hạt lúa ra đi Tiên Điền Chả cầy cầm lấy bút nghiên Chõng tre lều rạ… Mà nên danh làng Lay phay mấy hạt mưa nam Ướt câu phường vải trai làng lâm ly Giọt mưa "ngọn tiểu khê" đi Thành sông, thành biển, thành gì cũng đây… Bão xô nghiêng mảnh ruộng gầy Nắng hun đến cái diệp cày cũng cong Lụt mang đi hết của đồng Bao nhiêu hạt mẩy đi không… một về Bảy đời Tiến sỹ, quan Nghè Áo thâm, guốc mộc, roi tre, seo cày Long đong chừng ấy năm rày Trong Kiều có mẹ, mẹ nay có Kiều 11/9/11 Bên mộ cụ Nguyễn Du Vương Trọng Tưởng rằng phận bạc ạm Tiên Ngờ đâu cụ Nguyễn Tiên iền nằm đây Ngẩng trời cao, cúi đất dày Cắn môi tay nắm bàn tay của mình Một vùng cồn bãi trống trênh Cụ cùng thập loại chúng sinh nằm kề Hút tầm chẳng cánh hoa lê Bạch đàn đôi ngọn gió về nỉ non Xạc xào lá cỏ héo hon Bàn chân cát bụi, lối mòn nhỏ nhoi Lặng im bên nấm mộ rồi Chưa tin mình đã đến nơi mình tìm Không cành để gọi tiếng chim Không hoa cho bướm mang thêm nắng trời Không vầng cỏ ấm tay người Nén hương tảo mộ cắm rồi lại xiêu Thanh minh trong những câu Kiều Rưng rưng con đọc với chiều Nghi Xuân Cúi đầu tưởng nhớ vĩ nhân Phong trần còn để phong trần riêng ai Bao giờ cây súng rời vai Nung vôi, chở đá tượng đài xây lên Trái tim lớn giữa thiên nhiên Tình thương nối nhịp suốt nghìn năm xa... 11/9/11 Gặp Nguyễn Du trên sông đêm Nguyễn Việt Chiến Đêm mưa, gặp Nguyễn trên sông Đầu đội nón lá, chân không mang giày Ông ra câu cá sông này Một chiếc cần trúc phất đầy mưa đêm Ông dốc bầu rượu tưới lên Dòng sông mặt sách còn thiêm thiếp nằm Các người ngủ suốt trăm năm Nguồn thơ đã cạn, nguồn văn đã mòn Dậy đi thôi nước vẫn còn Sông vẫn đang chảy từ nguồn cội xa Sông là bạn học của ta Ta học sông cách phù sa đắp bồi Sông văn chảy dọc cuộc đời Nguyễn ngồi câu chữ dưới trời mưa đêm Có cô gái trẻ làng bên Ra sông giặt lụa vào đêm Nguyễn về Thế rồi đêm ấy bờ đê Mưa thì đã tạnh, trăng thề đã rơi Hình như họ đã thành đôi Sông thơ chảy suốt một trời Nguyễn Du "Truyện Kiều" ông viết trong mơ Ngoài sông tiếng đập lụa như vẫn còn Lụa như trăng giặt chẳng mòn Nàng Kiều đêm ấy vẫn còn trên sông Người lụa đã nhận ra ông Đầu đội nón lá, chân không mang giày Ông ra câu chữ sông này Một chiếc cần bút phất đầy trăng đêm 11/9/11 Mượn sóng Tiền Đường Nguyễn Vũ Tiềm Quê nhà nào thiếu gì sông nước Chẳng thiếu dòng sâu máu cuộn ngầu Sao không là sông Lam, sông Hương Sông nước mắt Phải mượn Tiền Đường gửi nỗi đau! Quê nhà nào thiếu gì tài sắc Hồng nhan chìm nổi dễ chưa nhiều? Sao không là Thị Kính, nàng Tô bạc phận Nước mắt phương Nam chảy ngược đến nàng Kiều? Tiếc như sông, để thương người như biển Từ hay Kim đều lận đận phong trần Lưỡi gươm cường bạo Hồ Tôn Hiến Có khi nào vắng bên cửa phòng văn! 11/9/11 Thăm mộ Nguyễn Du Hoàng trung Thông Thật kỳ lạ nơi Nguyễn Du nằm đó Cũng cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia Cũng nấm mộ sè sè ngọn cỏ Trong trang Kiều tôi đọc dưới đèn khuya. Không phải tiết sụt sùi tháng bảy Ánh chiều hè man mác hàng dương Đỉnh Hồng Lĩnh soi dòng Lam cuộn chảy Tiếng cuốc đào lách cách giữa đồng nương. Tìm mộ Nguyễn Du như Kim Trọng tìm Kiều Qua nhịp cầu ai đó ghé trông theo. Giữa khoai lúa Người nằm giản dị Phảng phất hương bay trong gió chiều. Tiếng người hát xưa thấm đầy nước mắt Thấm vị đời cay đắng khổ đau Hai thế kỷ đi qua trong nấm đất Mấy kiếp người, mấy cuộc bể dâu. Đời nay đẹp gấp mấy lần thưở trước Giở trang Kiều còn rung động ý thơ. Thơ Người mãi sống cùng đất nước Dù mai sau, dù có bao giờ... 08 - 1963 11/9/11 Lang thang Tiên Điền Nguyễn Quốc Anh Cành xoè gai, lá tốt um tùm hoa mọc như rừng nên gọi là hoa dại loài hoa này trong thơ Kiều chưa có dẫu tóc Người bạc trắng tuổi ba mươi Rằng mai sau dù có bao giờ... hoa được chở che - dịu dàng nụ tím những cánh nhỏ ôm nhau kín đáo bàn tay không thể vô tình Hai trăm năm - bao cuộc phai tàn những huệ, hồng, lay-ơn, sen, cúc hoa dại tốt như rừng che lối cát với câu thơ còn lại - Mai sau... Nâng cành hoa che nắng trên đầu tôi đi tìm em đường dài lầm lụi thấp thoáng rừng hoa tóc Người trắng xoá Bỗng thấy lòng dịu bớt nỗi lang thang Tiên Điền, 30-9-1989 11/9/11 Nguyễn Du Trần Nhuận Minh Đến đâu con cũng gặp Người Xin dâng chén rượu giữa trời Trung Hoa Hạc Vàng một bóng lầu xa Hồ Nam úa nắng chiều tà hanh heo Tiệc to thường ở nơi nghèo Đồng ngô khô xác, mái lều gió lay Người xưa đi sứ qua đây Bùn lưng bụng ngựa, sông đầy thuyền trôi Cỏ cây, thành lũy khác rồi Hoàng Hà đã cạn, thơ Người vẫn sâu Thời nào thì cũng như nhau Nỗi buồn li biệt, nỗi đau dối lừa Tiền Đường sầm sập đêm mưa Nước âm u chảy như chưa vớt Kiều Nghiệp Thành còn tiếng quạ kêu Lâm Tri bến cũ, cầu treo rực đèn Sắc tài chi để trời ghen Người đâu phải nước đánh phèn cho trong Cõi đời đâu cũng long đong Văn chương bạc phận, má hồng vô duyên Bời bời những cuộc đỏ đen Chính trường sấp mặt, đồng tiền xoay ngang Đặt chân lên đỉnh Thiên Đàn Bốn bề mây trắng thu vàng lá rơi... Bâng khuâng con lại thấy Người Vái Người, con đứng ngang trời Trung Hoa... Cố Cung, 21-9-1999 22/9/11 Gửi Kiều cho em năm đánh Mỹ Chế lan Viên Hai trăm năm ngày kỷ niệm Nguyễn Du Pháo sáng đốt trên nhà của Nguyễn Em có yên tâm để đọc Truyện Kiều Buổi trăng lửa chếch soi tiền tuyến? Gió mùa thu xào xạc hoa lau Anh qua nhà của Nguyễn chả dừng lâu Nhớ đến Nguyễn, ngước nhìn Hồng Lĩnh vậy Bến phà Vinh bom "cắt" hai đầu... Có ngờ đâu cồn cát trắng cây xanh Gặp Nguyễn nơi đây trên đất Quảng Bình Đất hỏa tuyến những chàng trai lớp bảy Lại ngâm Kiều sau một cuộc giao tranh Bốn phía ruộng đồng mái rạ bờ tre Trận địa nằm man mác giữa hương quê... Thơ dân tộc lẫn màu nâu dân dã Nên câu Kiều đồng vọng, họ còn nghe Đêm thắng giặc Bảo Ninh, mẹ Suốt ngâm Kiều Mẹ dám đâu quên cái thuở khổ nghèo Nhà ai đó lẩy Kiều, câu được, mất Mẹ nấp gốc dừa, nước mắt ràn theo "Thuyền ai thấp thoáng"... Đất trời về ta Nhật Lệ sông dài, đò mẹ lại qua Câu thơ Nguyễn cũng góp phần chống Mỹ Một mái chèo trong lửa đạn xông pha Hai trăm năm... ờ nhỉ... hai trăm năm Thuở vui buồn... Kiều sống giữa lòng dân Xưa tiếng võng ru hời đêm lạnh giá Nay cỏ mềm xanh nõn tận trời xuân Đất nước mình nghèo lắm, hỡi em yêu Cho đến giọt lệ cha ông cũng còn có ích với ta nhiều... Dẫu súng đạn nặng đường ra hỏa tuyến Đi đường dài, em giữ Truyện Kiều theo 22/9/11 Đọc Kiều I Chế Lan Viên Suốt mười năm tôi biếng đọc Nguyễn Du Quân thù ném bom xuống những làng quê ta đẹp nhất Kiều bó tròn trong những gói tản cư Bà ru cháu bằng ca dao sản xuất Thấy trăng lên tôi sợ ánh trăng ngời Tôi muốn luyện lòng tôi thành lửa sắt Không tiếc gì vừng trăng xẻ làm đôi Sợ bộ đội hành quân đi gặp giặc Mười năm qua, nay trở lại hòa bình Trăng ly biệt lại đoàn viên trước cửa Cảo thơm đặt trước đèn, tôi dở Mỗi trang Kiều rung một bóng trăng thanh Trạnh thương cô Kiều như đời dân tộc Sắc tài sao mà lại lắm truân chuyên Cành xuân phải trao tay khi nước mất Cỏ bên trời xanh một sắc Đạm Tiên Bỗng quý cô Kiều như đời dân tộc Chữ kiên trinh vượt trăm sóng Tiền Đường Chàng Kim đã đến tìm, lau giọt khóc Và lò trầm đêm ấy tỏa bay hương Tôi hiểu sao trong xà lim án chém Lý Tự Trọng trưa nao còn đọc trang Kiều Đảng dạy ta không thể đưa lòng đi theo Đảng Lại xa những gì dân tộc thương yêu Giá đem lòng tôi tôi đọc Nguyễn Du Có phải đã hiểu nhân dân mình thêm chút nữa? Hiểu giá khổ đau để thêm bừng ngọn lửa Nước mắt ta đem đổi máu quân thù Thôi vui lên! Hạnh phúc đến đây rồi Dẫu sống lại, cô Kiều không khổ nữa Cả nhân loại sắp đến ngày hội ngộ Nguyễn Du viết lại Kiều chắc sẽ có văn vui Ta cách xa nhau một tiếng nấc; một thôi đường Xưa Nguyễn khóc - thì nay ta đã hát Nhưng Truyện Kiều cứ để yên, không cần lau nước mắt Đời đang vui, đời sẽ viết thêm chương 22/9/11 Vịnh Thúy Kiều Nguyễn Công Trứ Đã biết má hồng thời phận bạc Trách Kiều nhi chưa vẹn tấm lòng vàng Chiếc quạt thoa đành phụ nghĩa Kim lang Nặng vì hiếu, nhẹ vì tình thời cũng phải Từ Mã Giám Sinh cho đến chàng Từ Hải Cánh hoa tàn đem bán lại chốn thanh lâu Bấy giờ Kiều còn hiếu vào đâu Mà bướm chán ong chường cho đến thế? Bạc mệnh chẳng lầm người tiết nghĩa Đoạn trường cho đáng kiếp tà dâm! Bán mình trong bấy nhiêu năm Đố đem chữ hiếu mà lầm được ai! Nghĩ đời mà ngán cho đời!
câu thơ về nguyễn du